Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2024/HS-ST

Ngày 29-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ

Bà Phạm Tú Nhi

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 256/2024/TLST- HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Chí N (tên gọi khác: Nguyễn Trí N1), sinh năm 1992 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Ấp T, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; giới tính: nam; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1972; có 02 em ruột, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2010; bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền sự: không;

- Tiền án:

  • + Bản án số 235/2011/HSST ngày 09/8/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 04/02/2012;
  • + Bản án số 242/2012/HSST ngày 30/7/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D) tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 05/02/2013;
  • + Bản án số 17/2013/HSST ngày 26/9/2013 Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo kháng cáo, Bản án số 118/2013/HSPT ngày 21/11/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giữ y hình phạt 03 năm tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 06/7/2016;
  • + Bản án số 390/2016/HSST ngày 08/12/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 02/3/2019;
  • + Nhân thân: Bản án số 165/2020/HSST ngày 30/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án xong ngày 18/8/2024.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/8/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 2001; thường trú: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ liên lạc: Nhà trọ số C, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 2000; trú tại: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 08/08/2020, Nguyễn Chí N đến phòng trọ của anh họ là Nguyễn Quốc V tại địa chỉ số C, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương để chơi. Lúc này tại phòng trọ có bà Nguyễn Thị B là mẹ của anh V. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, anh V đi làm ca đêm về, anh V dựng xe môtô Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số 83P3 – 257.57 ở hành lang trước cửa phòng trọ, một lát sau bà B đi làm, chỉ còn anh V và N ở phòng trọ. Anh V và N lấy rượu ra uống đến khoảng 09 giờ cùng ngày thì anh V lên gác ngủ, còn N nằm ngủ ở sàn nhà bên dưới. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày bạn gái anh V đến chơi và lên gác nói chuyện với anh V, đến khoảng 14 giờ 30 phút anh V tiễn bạn gái về thì vẫn nhìn thấy chiếc xe môtô ở hành lang trước cửa phòng trọ. Anh V đi lên trên gác tiếp tục nằm ngủ, còn N vẫn nằm ngủ ở nền nhà bên dưới. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, thấy anh V đã ngủ nên N đi lên gác lấy chìa khóa xe máy anh V để ở kế bên gối đi xuống, N dùng chìa mở khóa xe nổ máy chạy đi. Nguyện điều khiển chiếc xe môtô Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số 83P3 – 257.57 đi đến Cửa khẩu X, huyện T, tỉnh Tây Ninh bán cho 01 người đàn ông (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) được 4.000.000₫ (bốn triệu đồng), rồi N bắt xe khách đi về lại thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 08/8/2020, bà B đi làm về đến phòng trọ thấy anh V nằm ngủ trên gác mà không thấy xe máy đâu, bà B gọi anh V dậy để hỏi, lúc này anh V đi ra ngoài hành lang dãy trọ thì phát hiện chiếc xe môtô biển số 83P3 – 257.57 đã bị mất, còn N đã đi đâu không rõ. Sau đó, anh V đến Công an phường B trình báo sự việc. Số tiền N bán chiếc xe đã tiêu xài hết.

Ngày 14/12/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Ngày 04/4/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án.

Quá trình điều tra xác minh Nguyễn Chí N đang chấp hành án tại trại giam P, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang theo bản án số 165/2020/HSST ngày 30/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 9, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 26/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định phục hồi điều tra và Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Chí N.

Theo kết luận định giá tài sản số 207/KLĐG-HĐĐGTS ngày 19/11/2020 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: chiếc xe môtô Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số 83P3 – 257.57 có giá là 13.500.000đ (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Cáo trạng số 268/CT-VKS-DA ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Chí N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Chí N mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố D, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Sáng ngày 08/8/2020, Nguyễn Chí N đến nhà anh họ là Nguyễn Quốc V ở phòng trọ số C, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương chơi. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, lợi dụng lúc anh V đang ngủ trên gác, Nguyễn Chí N lên gác lấy chìa khóa xe rồi đi xuống mở khóa chiếc xe môtô Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc, biển số 83P3- 257.57 của anh V để ở hành lang trước phòng trọ. Sau đó, N điều khiển chiếc xe đi đến cửa khẩu X, huyện T, tỉnh Tây Ninh bán cho 01 người đàn ông (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) được 4.000.000đ (bốn triệu đồng), số tiền trên Nguyện đã tiêu xài hết.

Hành vi lợi dụng lúc bị hại đang ngủ để chiếm đoạt chiếc xe mô tô trị giá 13.500.000₫ của bị cáo Nguyễn Chí N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Tính chất, mức độ của hành vi:

Tội phạm do bị cáo Nguyễn Chí N thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có 4 tiền án chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội do đó Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo khai bản thân chưa có vợ con, không có nghề nghiệp, số tiền bị cáo trộm cắp để lo cho cuộc sống của bản thân. Xét thấy, Nguyễn Chí N là thanh niên còn trẻ, bị cáo có đầy đủ sức khỏe để lao động sinh sống lương thiện, nhưng từ năm 2011 đến thời điểm hiện tại, bị cáo 5 lần bị xử phạt tù về hành vi chiếm đoạt tài sản với mục đích để phục vụ nhu cầu sống của bản thân. Do đó, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng bổ sung tình tiết định khung đối với bị cáo “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Chí N thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[6] Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và bổ sung thêm điểm b khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Điểm b, g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí N (tên gọi khác Nguyễn Trí N1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2024.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Chí N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Anh T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 252/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoản 2
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger