Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 252/2024/HS-ST

Ngày: 26/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Vương Đình Quang;
    • Ông Trần Quốc Sơn.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 210/2024/TLST-HS ngày 09/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2024/QĐXXST-HS ngày 12/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị Thu H

Tên gọi khác: Không

Giới tính: Nữ

Sinh ngày 03 tháng 05 năm 1985.

Nơi thường trú: Tiểu khu X, Thị trấn L, huyện S, tỉnh H.

Chỗ ở: Số Y M, phường M, quận N, thành phố H.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 12/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án, tiền sự: Không

Con ông: Phạm Văn S

Con bà: Nguyễn Thị L

Bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình

Chồng: Bùi Ngọc B

Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con út sinh năm 2018.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024, bị cáo được hủy bỏ biện pháp tạm giam từ ngày 05/7/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Phạm Thị Thu H không có công việc ổn định nên đã thuê cửa hàng tại địa chỉ số nhà I M, phường M, quận N, thành phố H để bán xổ số Vietlot và số lô, số đề cho khách có nhu cầu từ năm 2022 đến nay, H một mình bán số lô, số đề cho khách để hưởng lợi. Hàng ngày, khi có khách đến mua số lô, số đề thì H sẽ viết các số lô, số đề khách mua vào hai tờ giấy nhỏ màu trắng kích thước 5x8cm (tích kê) rồi nhận tiền chơi của khách, đưa một tờ tích kê cho khách và giữ lại 1 bản sao để làm căn cứ thanh toán thắng thua với khách sau khi mở thưởng. Bản thân H tự quy ước, ký hiệu trên mỗi tờ tích kê bán cho khách hàng ngày từ T1 đến T..., H ghi kí hiệu tại góc trên phía bên phải của mỗi tờ tích kê. Với những số lô, số đề khách mua, H tự giữ lại để đợi kết quả rồi thanh toán thắng thua với khách bằng tiền mặt, không chuyển cho ai. Sau hết một ngày bán số lô, số đề, sau khi thanh toán tiền thắng thua cho khách xong thì H tiêu hủy hết các tích kê này đi.

Khoảng 18h10 ngày 16/05/2024, khi vừa bán số lô số đề cho khách xong thì lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Khi nhìn thấy lực lượng Công an, H đã xé để tiêu hủy nhiều tích kê bán số lô, số đề của khách. H khai nhận các tích kê này là ghi bán số lô, số đề cho khách chơi, H không nhớ ước lượng được số tiền ghi trong các tích kê. Cơ quan Công an thu giữ lại được 09 tích kê số lô, số đề ghi ngày 16/05/2024. Trong đó, thu giữ của H 08 (tám) tờ tích kê ghi các kí hiệu: T11, T18, T47, T48, T49, T51, T52, T53 và của Đoàn Ngọc T 01 (một) tờ tích kê kí hiệu là T42 ngày 16/5/2024, cụ thể như sau:

  • - Tại tờ tích kê thứ 1 ghi kí hiệu T11: Khách ghi số lô sau: 01, 02, 20, 83, 38x 5 điểm = 575.000 đồng (mỗi 1 điểm lô giá 23.000 đồng); khách ghi những số đề sau: 24,74, 22 (mỗi số đề 22.000 đồng) = 66.000 đồng; số đề 47, 42 (mỗi số 11.000 đồng) = 22.000 đồng. Tổng số tiền H bán cho khách tại tờ tích kê số 1 là 663.000 đồng.
  • - Tại tích kê thứ 2 ghi kí hiệu T18: Khách ghi số lô như sau: 92x50 điểm = 1.125.000 đồng, 35x40 điểm = 900.000 đồng; 78, 87x5 điểm = 225.000 đồng (mỗi điểm giá 22.500 đồng). Khách ghi số đề sau: 92 x 55.000 đồng. Tổng số tiền H bán số lô, số đề cho khách tại tờ tích kê số 2 là 2.305.000 đồng.
  • - Tại tờ tích kê thứ 3 ghi kí hiệu T47: Khách ghi số đề sau: 88 x 220.000 đồng. Tổng số tiền khách ghi là 220.000 đồng.
  • - Tại tờ tích kế thứ 4 ghi kí hiệu T48: Khách ghi số đề là Bộ đề 47 (gồm những số đề sau: 47, 74, 42, 24, 97, 79, 92,29) mỗi số đề 110.000 đồng; Bộ đề 87 (gồm những số đề sau: 87, 78, 82, 28, 37, 73, 32, 23) mỗi số đề 110.000 đồng; 87, 78, 79, 97, 74, 47, 03, 30, 25, 52 mỗi số đề 220.000 đồng. Tổng số tiền H bán cho khách tại tờ tích kê số 4 là 3.960.000 đồng.
  • - Tại tờ tích kê thứ 5 ghi kí hiệu T49: Khách ghi số đề 17, 71 mỗi số 33.000 đồng; 08, 09, 10, 19 mỗi số đề 55.000 đồng; đề 3 số: 109 là 44.000 đồng. Tổng số tiền H bán cho khách tại tờ tích kê số 5 là 330.000 đồng.
  • - Tại tờ tích kê thứ 6 ghi kí hiệu T51: Khách ghi số lô là 37, 73, 86, 68 mỗi số 562.500 đồng. Tổng số tiền H bán cho khách tại tờ tích kê số 6 là 2.250.000 đồng.
  • - Tại tờ tích kê thứ 7 ghi kí hiệu T52: Khách ghi số đề 58, 85, 28, 82 mỗi số 330.000 đồng. Tổng số tiền H bán cho khách tại tờ tích kê số 7 là 1.320.000 đồng.
  • - Tại tờ tích kê thứ 8 ghi kí hiệu T53: Khách ghi số đề là 23, 32 mỗi số đề 220.000 đồng. Tổng số tiền H bán cho khách tại tờ tích kê số 8 là 440.000 đồng.
  • - Tại tờ tích kê thứ 9 ghi kí hiệu T42: Khách ghi số lô là 11, 06, 60 mỗi số 5 điểm (mỗi điểm 23.000 đồng) với số tiền 345.000 đồng; Khách ghi số đề 51, 52, 55, 61, 91, 73, 74 với số 154.000 đồng. Tổng số tiền H bán cho khách tại tờ tích kê số 9 là 499.000 đồng.

* Tổng số tiền H bán số lô, số đề cho khách ngày 16/5/2024 theo 9 tờ tích kê bị thu giữ là 663.000 đồng + 2.305.000 đồng + 220.000 đồng + 3.960.000 đồng + 330.000 đồng + 2.250.000 đồng + 1.320.000 đồng + 440.000 đồng + 499.000 đồng = 11.987.000 đồng (Mười một triệu chín trăm tám mươi bẩy nghìn đồng). H khai nhận những khách đến mua số lô, số đề theo 08 tích kê trên đều là khách vãng lai, H không quen biết, nhận và thanh toán tiền thắng thua bằng tiền mặt.

Ngày 16/5/2024, T mua các số lô, số đề của H với tổng số tiền là 499.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Tecno Spark, màu xanh, số imei 1: 358554567576826, imei 2: 358554567576834, lắp sim số: 0366859626 (thu giữ của Phạm Thị Thu H);
  • - Tiền mặt: 22.500.000 đồng (thu giữ của Phạm Thị Thu H);
  • - 08 tờ tích kê ghi các số lô, số đề (thu giữ của H);
  • - 01 tờ tích kê ghi số lô, số đề (thu giữ của Đoàn Ngọc T).

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thị Thu H khai nhận một mình bán số lô, số đề mà không chuyển bảng cho ai, không tham gia cùng ai, nếu khách trúng thì H trả tiền cho khách còn nếu khách thua thì H được hưởng số tiền của khách. Quá trình bán số lô, số đề cho khách thì H và khách thanh toán với nhau bằng tiền mặt. Khi bắt giữ Cơ quan điều tra thu giữ của H số tiền là 22.500.000 đồng (trong đó số tiền H ghi lô đề cho khách ngày 16/5/2024 là 11.987.000 đồng, còn lại 10.513.000 đồng là tiền khách trúng thưởng ngày hôm trước H chưa thanh toán cho các khách ghi lô đề). Bản thân H mở quán nước bán hàng và ghi số lô đề từ năm 2022 đến nay nhưng H không nhớ được việc ghi số lô, số đề cho bao nhiêu khách, tổng tiền bao nhiêu, do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác định số tiền H thu lời bất chính từ việc ghi số lô số đề.

Đối với Đoàn Ngọc T, T khai nhận mua các số lô, số đề của H trong ngày 16/5/2024 với tổng số tiền là 499.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xác minh lý lịch, tiền án tiền sự của Đoàn Ngọc T, xác định T chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc. Do đó, hành vi của T chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc. Ngày 24/7/2024, Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đoàn Ngọc T về hành vi “Mua các số lô, số đề”, mức phạt 350.000 đồng theo Khoản 1, Điều 28, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 206/CT- VKS ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Bị cáo Phạm Thị Thu H bị truy tố về tội Đánh bạc, tội danh và khung hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận: Bị cáo Phạm Thị Thu H phạm tội Đánh bạc, tội danh và khung hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu H 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự: Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại nhãn hiệu Tecno Spark, màu xanh, số EMΕΙ 1: 358554567576826; IMEI 2: 358554567576834, lắp sim số: 0366859626; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 22.500.000 đồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tham gia tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo thấy ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 18h10' ngày 16/05/2024 tổ công tác Đ - Công an quận N tuần tra trên địa bàn phường M phát hiện bắt quả tang Phạm Thị Thu H đang có hành vi bán số lô, số đề cho Đoàn Ngọc T tại địa chỉ ở I M, phường M, quận N, thành phố H. Quá trình điều tra thu giữ của H 09 tích kê số lô, số đề ghi ngày 16/05/2024, tổng số tiền H ghi số lô đề theo 09 tích kê này là 11.987.000 đồng.

Bị cáo khai nhận tội.

Hành vi của bị cáo Phạm Thị Thu H đã phạm vào tội Đánh bạc theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm chính sách của Nhà nước về phòng chống các tệ nạn xã hội.

[4] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và số tiền bị cáo tham gia đánh bạc để áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ sau: khai báo thành khẩn, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Xét thấy: Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm là: 01 điện thoại nhãn hiệu Tecno Spark, màu xanh, số IMEI 1: 358554567576826; IMEI 2: 358554567576834, lắp sim số: 0366859626 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo H; số tiền 22.500.000 đồng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thu H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu H 08 (T1) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vật chứng: Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại nhãn hiệu Tecno Spark, màu xanh, số IMEI 1: 358554567576826; IMEI 2: 358554567576834, lắp sim số: 0366859626; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 22.500.000 đồng.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục THA dân sự quận N theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 269 ngày 09/8/2024 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 09/8/2024).

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Q.Nam Từ Liêm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an Q.Nam Từ Liêm;
  • - TT lý lịch- Sở Tư pháp TP . Hà Nội;
  • - Chi cục THADS Q.Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thúy Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 252/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thu H phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger