TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 252/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23-7-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh;
Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 422/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 285/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc Tuyết T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: C, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Trung T1, sinh năm 1989.
Địa chỉ: 23/18, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Ngọc Tuyết T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 2018. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã và không tôn trọng nhau. Vì không muốn đỗ vỡ, vợ chồng đã nhiều lần trao đổi tìm cách giải quyết mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc nhưng không được nên sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Bà T xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung là cháu Phạm Minh K, sinh ngày 25/11/2016 và cháu Phạm Ngọc Lan K1, sinh ngày 27/02/2019. Ly hôn, bà T xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Trung T1 đã được Tòa án triệu tập để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Ngọc Tuyết T ly hôn ông Phạm Trung T1.
- - Về con chung: Giao cháu Phạm Minh K, sinh ngày 25/11/2016 và cháu Phạm Ngọc Lan K1, sinh ngày 27/02/2019 cho bà Lê Ngọc Tuyết T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, ông Phạm Trung T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Bà Lê Ngọc Tuyết T phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo biên bản xác minh ngày 22/3/2024 tại Công an phường L thì bị đơn ông Phạm Trung T1 cư trú tại 23/18, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Về việc vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà T và ông T1 kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 50/2018 ngày 27/02/2018. Vì vậy, căn cứ Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp. Theo bà T, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, không tôn trọng nhau và đã sống ly thân từ năm 2022.
Theo kết quả xác minh ngày 28/3/2024 tại UBND phường L, thành phố B thì địa phương không biết được mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông T1. Tuy nhiên, các đương sự đã được Tòa án triệu tập để hòa giải đoàn tụ nhưng bà T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, ông T1 vắng mặt không có lý do. Vì vậy, có cơ sở chứng minh bà T đã cương quyết ly hôn; ông T1 bỏ mặc, không muốn níu kéo tình cảm để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình.
Từ những nhận định trên, xét thấy bà T và ông T1 đã ly thân thời gian dài, quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho bà T được ly hôn với ông T1.
- Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung là cháu Phạm Minh K, sinh ngày 25/11/2016 và cháu Phạm Ngọc Lan K1, sinh ngày 27/02/2019. Từ khi ly thân 02 con chung do bà T nuôi dưỡng và bà T có thu nhập ổn định để nuôi con. Vì vậy, xuất phát từ lợi ích mọi mặt cho con chung, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà T xác định tự thỏa thuận nhưng ông T1 không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T xác định không có nhưng ông T1 không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Ngọc Tuyết T đối với bị đơn ông Phạm Trung T1.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Ngọc Tuyết T ly hôn ông Phạm Trung T1.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Minh K, sinh ngày 25/11/2016 và cháu Phạm Ngọc Lan K1, sinh ngày 27/02/2019 cho bà Lê Ngọc Tuyết T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, ông Phạm Trung T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Ông Phạm Trung T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Lê Ngọc Tuyết T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002544 ngày 26/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Hoàng Long |
Bản án số 252/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 252/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc Tuyết T - Phạm Trung T1
