|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 252/2024/HSST. Ngày: 02 - 12 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Hữu Đệ.
- 2/ Bà Ngô Thị Yêm.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 02/12/2024, tại Phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 241/2024/HSST ngày 08/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2024/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn K, sinh năm 1997 tại Q, Nghệ An. Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn C (đã chết) và bà Vi Thị L, có vợ đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2018; TATS: Theo Danh, chỉ bản 720 của Công an huyện Đông Anh lập ngày 26/8/2024 và Trích lục tiền án, tiền sự số 6649853/2024/PV06 ngày 25/10/2024 thể hiện bị cáo không có tiền sự, có 01 tiền án: Ngày 22/9/2021 Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý tại bản án số 135/2021/HS-ST. Ra trại ngày 14/4/2023. Đã chấp hành xong bản án. Chưa được xoá án tích; Nhân thân không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn K: Ông Trương Công Đ– Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 05 phút ngày 21/8/2024 Công an xã L nghi vấn, kiểm tra hành chính đối với Lương Văn K quá trình kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay phải của K có 01 túi nilon màu trắng kích thước (2,5 x2,5 cm) (K khai là ma tuý loại Heroine). Cơ quan công an đã lập biên bản, thu giữ vật chứng, đưa K cùng vật chứng về trụ sở điều tra làm rõ.
Giám định số vật chứng nghi là ma túy tạm giữ của Lương Văn K, ngày 30/8/2024, Phòng K1 – Công an thành phố H có kết luận số 6216 kết luận chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma tuý loại Heroine, tổng khối lượng 0,140 gram.
Ngoài ra, Công an còn thu giữ của Lương Văn K 01 (một) điện thoại Nokia 105, vỏ màu đen, số seri 350664635618696 và 350664637618694, lắp sim số thuê bao 0374845442.
Cơ quan điều tra tạm giữ của K:
- - 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x2,5) cm bên trong chứa chất bột màu trắng.
- - 01 (một) điện thoại Nokia 105, vỏ màu đen, số seri 350664635618696 và 350664637618694, lắp sim số thuê bao 0374845442.
Tại Cơ quan điều tra, Lương Văn K khai nhận: K nghiện ma tuý, không có nơi ở cố định. Khoảng 15h00' ngày 21/8/2024, K đi bộ lang thang tại Bắc Ninh (K không nhớ địa điểm) gặp một người nam giới không quen biết đứng ven đường đã hỏi và mua của người nam giới này 400.000 đồng ma túy loại heroine. K được người nam giới này đưa cho 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x2,5) cm có chứa chất bột màu trắng và K cầm trong tay đi sang Đ để tìm việc làm. Khoảng 17h00' cùng ngày khi K đi bộ đến đường L, đoạn qua thôn H thì bị thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt giữ. Mục đích K mua ma túy chỉ để sử dụng cho nhu cầu của bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.
Đối với người nam giới đã bán ma túy cho K, K khai không rõ nhân thân lai lịch của người này. Ngày 21/8/2024 là lần đầu tiên K mua ma tuý của thanh niên này. Ngoài lời khai của K không có tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không làm rõ được để đưa ra xử lý.
Đối với vật chứng thu giữ: 01 phong bì dán kín có chữ ký của K và giám định viên bên trong có chứa: 0,124 gam ma túy loại Heroine (khối lượng còn lại sau giám định do PC09 thu mẫu) là tang vật của vụ án; 01 điện thoại di động loại Nokia 105, vỏ màu đen, số seri 350664635618696 và 350664637618694, lắp sim số thuê bao 0374845442 quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của K đã chuyển Toà án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản Cáo trạng số 236/CT-VKS-ĐA ngày 06/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố: Bị cáo Lương Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi của mình như cáo trạng đã nêu, ăn năn, hối cải về hành vi của mình và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo khai chiếc điện thoại và sim kèm theo bị cáo sử dụng để gọi và hẹn người bán ma tuý cho bị cáo. Bị cáo khai bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng và đã được ghi nhận trong bản án của Toà án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử đối với bị cáo trước đây nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ.
Người bào chữa cho bị cáo K, trình bày lời bào chữa và đề nghị: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, là người nghiện ma tuý, gia đình là hộ cận nghèo nên bị cáo về Hà Nội để kiếm việc làm nhưng do nghiện ma tuý nên đã tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được miễn tiền án phí và cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
Lương Văn K: Từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 15h00' ngày 21/8/2024 tại khu vực thôn H, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Lương Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,140 gram ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng, bị phát hiện bắt giữ.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đặc biệt là bệnh HIV/AIDS. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng bản thân nên vẫn cố ý phạm tội. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lương Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định: Ngày 22/9/2021, Lương Văn K bị Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý tại bản án số 135/2021/HS-ST, đã chấp hành án và ra trại ngày 14/4/2023. Do vậy, xác định đến thời điểm thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nêu trên bị cáo K chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm và bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng theo Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi của mình và ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo xác định có ông nội là người có công với cách mạng nhưng không có tài liệu chứng cứ để chứng minh hơn nữa trong bản án của Toà án nhân dân huyện Gia Lâm đã xét xử bị cáo trước đó cũng không áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ này nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị cáo. Bị cáo đã có tiền án về loại tội ma tuý chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên khi xem xét, cân nhắc hình phạt đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với mức độ hành vi, giảm nhẹ một phần cho bị cáo và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là đối tượng thuộc hộ cận nghèo và nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín có chữ ký của K và giám định viên bên trong có chứa: 0,124 gam ma túy loại Heroine (khối lượng còn lại sau giám định do PC09 thu mẫu); 01 sim số thuê bao 0374845442; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động loại Nokia 105, vỏ màu đen, số seri 350664635618696 và 350664637618694 là phù hợp.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, năm 2024, hộ gia đình bị cáo được xét duyệt là hộ cận nghèo và thuộc đối tượng được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án và người bào chữa của bị cáo đề nghị cho bị cáo được miễn tiền án phí theo quy định là phù hợp.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
Lương Văn K: 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước nước 01 điện thoại di động loại Nokia 105, vỏ màu đen, số seri 350664635618696 và 350664637618694.
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì dán kín có chữ ký của K và giám định viên bên trong có chứa: 0,124 gam ma túy loại Heroine (khối lượng còn lại sau giám định do PC09 thu mẫu); 01 sim số thuê bao 0374845442 (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh ngày 08/11/2024).
Bị cáo Lương Văn K được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Thanh |
Bản án số 252/2024/HSST ngày 02/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 252/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn K Tàng trữ trái phép chất ma tuý
