Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH VĨNH LONG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2024/DS-PT

Ngày: 25-10-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lộc

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Hà

Bà Đặng Thị Ánh Bình

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Khương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Tuyết Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 232/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2024/DS-ST, ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 303/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  • · Nguyên đơn: 1. Bà Phạm Thị M, sinh năm 1965.
  • 2. Ông Huỳnh Văn V, sinh năm 1965.

Cùng địa chỉ cư trú: ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

  • - Bị đơn:
  • 1. Chị Lê Thị Thùy L, sinh năm 1976.
  • 2. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1952.

Cùng địa chỉ cư trú: ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của chị L, bà T: Ông Phan Quang T1, sinh năm 1961.

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lê Thị Thùy L: Ông Lê Văn N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh V.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị T2, sinh năm 1963.

Địa chỉ cư trú: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Người kháng cáo: Chị Lê Thị Thùy L - là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 13 tháng 03 năm 2023 (Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn nhận ngày 13/3/2024); Đơn khởi kiện ngày 10/6/2024; Đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/7/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Huỳnh Văn V và bà Phạm Thị M cùng trình bày:

Vào khoảng năm 2018 ông, bà có cho chị Lê Thị Thùy L, bà Đặng Thị T vay tiền nhiều lần, đến ngày 17/7/2022 hai bên chốt lại số tiền còn nợ là 1.000.000.000đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay là 02 năm, ngày 17/7/2024 đến hạn trả nợ. Chị L trả lãi đầy đủ từ ngày 17/7/2022 đến ngày 12/8/2023 được số tiền 130.000.000đồng thì ngưng cho đến nay. Biên nhận có chữ ký của hai bên và được trưởng ấp V xác nhận. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chị Lê Thị Thùy L và bà Đặng Thị T có nghĩa vụ trả số tiền vốn vay 1.000.000.000đồng, lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 13/8/2023 đến ngày 13/6/2024 bằng 10 tháng số tiền 100.000.000đồng.

Sau đó nguyên đơn tiếp tục cho chị L, bà T vay nhiều lần có lập biên nhận chốt nợ ngày 12/8/2023 với số tiền 600.000.000đồng, lãi suất 1%/tháng, mục đích vay là để chi tiêu trong gia đình, thời hạn trả vốn là ngày 12/02/2024, hai bên có làm biên nhận nợ do ông V đánh máy, chị L và bà T ký tên, có xác nhận của Trưởng ấp V. Sau khi vay chị L và bà T không đóng lãi cũng không trả vốn khi đến hạn. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chị Lê Thị Thùy L và bà Đặng Thị T có nghĩa vụ trả số tiền vốn vay 600.000.000đồng, lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 12/8/2023 đến ngày 12/3/2024 bằng 07 tháng số tiền 42.000.000đồng.

Ngoài ra bà Phạm Thị M có tham gia 01 dây hụi mở ngày 29/7/2022, hụi có 22 người, 27 phần, hụi 5.000.000đồng, mỗi tháng mở 01 lần do bà Mai Thị T2 làm chủ hụi. Dây hụi này bà M tham gia chơi dùm chị L và bà T và đã hốt hụi cho chị L và bà T. Chị L và bà T còn phải đóng lại 13 lần hụi chết mỗi lần đóng 10.000.000đtính từ ngày 12/8/2023 đến ngày hụi mãn bằng 130.000.000đ. Từ ngày 12/8/2023 đến nay chị L và bà T không dsdongs hụi, nên nguyên đơn yêu cầu chị L, bà T có nghĩa vụ trả số tiền 130.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tại Đơn tường trình ngày 04/5/2024, Đơn phản tố ngày 25/7/2024 và các lời khai khác trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Lê Thị Thùy L, đại diện theo ủy quyền cùng trình bày:

Chị thừa nhận 02 biên nhận vay tiền ngày 17/7/2022 và 12/8/2023 đúng là chữ ký và chữ viết tên của chị và bà T, nội dung Vi bằng do nguyên đơn cung cấp đúng là cuộc nói chuyện của nguyên đơn và bị đơn. Tuy nhiên số tiền vay 600.000.000đồng của biên nhận vay ngày 12/8/2023 nằm trong số tiền 1.000.000.000đồng trong biên nhận ngày 17/7/2022. Bị đơn có yêu cầu phản tố trong vụ án là vô hiệu giấy vay mượn tiền ngày 12/8/2023 với lý do là giao dịch dân sự giả tạo, vi phạm về lãi suất cho vay, hợp đồng giao kết khi bị đơn không có điều kiện thực hiện trả nợ, bị đơn có sự nhằm lẫn trong việc ký biên nhận nợ. Đối với giấy vay tiền ngày 17/7/2022 bị đơn thống nhất đã đóng lãi đến ngày 12/8/2023 số tiền lãi đã trả là 130.000.000đồng, bị đơn yêu cầu Tòa án điều chỉnh lãi suất theo quy định. Đối với số tiền hụi 130.000.000đồng thì bị đơn không đồng ý do bị đơn không có nhờ nguyên đơn tham gia hụi, không có nhận khoản tiền nào từ việc tham gia hụi.

Tại Đơn tường trình ngày 04/5/2024 và các lời khai khác trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đặng Thị T, đại diện theo ủy quyền cùng trình bày:

Thống nhất như ý kiến của chị L, nghĩa vụ trả nợ chính là chị L nhưng bà T hỗ trợ chị L trong việc trả nợ. Đồng thời bà cũng yêu cầu thay đổi địa vị tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/7/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị T2 trình bày:

Vào ngày 15/5/2023 bà có cho bà Phạm Thị M vay với số tiền 110.000.000đồng, thời hạn vay 3 tháng, khi đến vay bà M đến trực tiếp tại nhà bà vay mượn, bà M có nói cho chị L vay mượn lại nhưng bà không trực tiếp chứng kiến việc vay mượn nợ giữa bà M và chị L. Đối với số tiền vay mượn trên bà M đã trả đủ nên không có tranh chấp.

Ngoài ra bà M có tham gia 01 dây hụi do bà làm chủ hụi, dây hụi mở ngày 29/7/2022, dây hụi có 27 phần, loại hụi 5.000.000đồng, 01 tháng khui 01 lần; bà M tham gia 02 phần, bà M đóng hụi sống đầy đủ đến ngày 29/01/2023 hốt dây hụi đầu tiên, đến ngày 29/4/2023 hốt dây hụi phần thứ 2, chủ hụi đã giao tiền đầy đủ cho hụi viên, dây hụi này còn 03 lần kết thúc (mãn hụi), người trực tiếp tham gia hụi là bà M, sau này khi bà M đóng hụi chết có nói dây hụi này chơi dùm chị L, người đứng tên sổ hụi là bà M. Quá trình đóng hụi bà chỉ gặp trực tiếp bà M, không có gặp chị L trong quá trình đóng, khui hụi. Bà M đóng hụi sống, hụi chết đúng thời hạn, không vi phạm. Bà M là người trực tiếp tham gia hụi nên bà M có trách nhiệm đóng hụi chết, còn bà M cho ai mượn hụi lại thì việc đó bà không rõ. Dây hụi bà M đóng hụi chết đến ngày 29/5/2024 02 phần hụi được 30 lần số tiền 150.000.000đồng, bà M đóng đầy đủ. Nay bà không yêu cầu độc lập gì trong vụ án, trường hợp có tranh chấp sẽ khởi kiện vụ án khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn đã xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Huỳnh Văn V, bà Phạm Thị M.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Lê Thị Thùy L.

Buộc chị Lê Thị Thùy L và bà Đặng Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Văn V, bà Phạm Thị M tổng cộng số tiền 1.630.000.000đ (Một tỷ sáu trăm ba mươi triệu đồng), lãi suất 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Tổng cộng vốn, lãi 1.765.000.000đ (Một tỷ bảy trăm sáu mươi lăm triệu đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án, về án phí dân sự sơ thẩm và về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/9/2024 chị Lê Thị Thùy L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu được xét xử lại theo trình tự phúc thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện liên quan tới hợp đồng ngày 12/8/2023 của nguyên đơn và yêu cầu vô hiệu phần hợp đồng liên quan tới phần gốc 500 triệu đồng tại Giấy vay mượn tiền ngày 17/7/2022 do có dấu hiệu giả tạo che dấu vi phạm quy định về lãi suất cho vay theo quy định Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Phan Quang T1 đại diện cho chị Lê Thị Thùy L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Chị Lê Thị Thùy L xác định đối với bản án sơ thẩm buộc chị và bà T trả bà M, ông V số tiền gốc và lãi 1.100.000.000đ thì chị và bà T đồng ý không kháng cáo. Chị L khẳng định chị L chỉ kháng cáo bản án sơ thẩm không đồng ý trả ông V và bà M số tiền trong giấy vay mượn tiền ngày 12/8/2023. Chị Lê Thị Thùy L xác định khi ký giấy vay mượn tiền ngày 17/7/2022 và ngày 12/8/2023 chị và bà M có đến nhờ trưởng ấp xác nhận vào giấy vay mượn tiền. Ngoài ra chị L không có ý kiến gì khác.

Ông Phan Quang T1 đại diện cho bà Đặng Thị T thống nhất với kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L.

Ông Huỳnh Văn V và bà Phạm Thị M không đồng ý với kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L. Ông V và bà M đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ông V và bà M xác định là bà M tham gia chơi hụi dùm chị L và bà T. Tính đến nay chị L và bà T còn nợ 13 lần đóng hụi bằng 130.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm ông V và bà M xin rút lại yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là phong tỏa quyền sử dụng đất của bà Đặng Thị T.

Vị trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh V bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Lê Thị Thùy L phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong vụ án và lời trình bày của các đương sự, có căn cứ xác định kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L là có căn cứ. Sau ngày 17/7/2022 chị L không có nhận khoản tiền nào của ông V và bà M. Lời trình bày của ông V và bà M trong quá trình giải quyết vụ án có mâu thuẫn nhau. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L là chưa đủ căn cứ để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận đơn kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chị Lê Thị Thùy L phải chịu án phí phúc thẩm. Do chị L là người khuyết tật nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án ngày 28/8/2024, ngày 08/9/2024 chị Lê Thị Thùy L có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Xét đơn kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L còn trong hạn luật định, chị L là người khuyết tật nên được miễn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Do đó kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Do ông Huỳnh Văn V, bà Phạm Thị M với bà Đặng Thị T, chị Lê Thị Thùy L quen biết nhau, nên bà T và chị L có nhờ ông V, bà M vay tiền dùm. Tính đến ngày 17/7/2022 ông V, bà M vay tiền dùm bà T, chị L tổng số tiền là 1.000.000.000₫.

Theo giấy vay mượn tiền ngày 17/7/2022 thể hiện nội dung: Chị Lê Thị Thùy L và bà Đặng Thị T có nhờ bà Phạm Thị M và ông Huỳnh Văn V vay mượn dùm số tiền 1.000.000.000đ. Lãi suất 10.000.000đ/tháng, đóng lãi hàng tháng, sau 02 năm đến ngày 17/7/2024 sẽ trả tiền gốc. Có chữ ký của chị L và bà T. Chị L, bà T thừa nhận chữ ký tại Giấy vay tiền và thừa nhận có chốt nợ với số tiền 1.000.000.000đ theo biên nhận nêu trên. Bà M trình bày, chị L đã đóng lãi đến ngày 12/8/2023 là 13 tháng với số tiền 130.000.000đ thì ngưng. Do đó bà M, ông V yêu cầu chị L và bà T trả tiền gốc 1.000.000.000đ, lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 13/8/2023 đến ngày 13/6/2024 là 10 tháng bằng số tiền 100.000.000₫ là phù hợp với Điều 468 Bộ luật Dân sự. Án sơ thẩm xử buộc chị L và bà T có nghĩa vụ trả bà M ông V số tiền gốc và lãi theo giấy vay mượn tiền ngày 17/7/2022 tổng cộng vốn và lãi 1.100.000.000₫ là có căn cứ. Chị L và bà T không kháng cáo đối với phần này nên án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra ông V và bà M còn khởi kiện yêu cầu bà T và chị L trả số tiền nợ theo giấy vay mượn tiền ngày 12/8/2023, nhưng chị L không đồng ý trả theo yêu cầu khởi kiện của ông V và bà M.

[2.2] Xét kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L không đồng ý trả số tiền nợ theo giấy vay mượn tiền ngày 12/8/2023, Hội đồng xét xử nhận thấy: Giấy vay tiền ngày 12/8/2023, số tiền vay 600.000.000đ và tiền hụi 130.000.000đ thì bị đơn không thừa nhận nợ. Chị L trình bày số tiền 600.000.000đ là tiền lãi và chốt nợ trong số tiền 1.000.000.000đ, phía bị đơn có sự nhầm lẫn trong việc ký biên nhận nợ. Tuy nhiên ngoài lời trình bày, chị L không có chứng cứ chứng minh có sự nhầm lẫn này. Nguyên đơn ông V và bà M không thừa nhận lời trình bày của chị L. Xét thấy tại giấy vay tiền ngày 12/8/2023 thể hiện nội dung: Chị Lê Thị Thùy L và bà Đặng Thị T có nhờ bà Phạm Thị M và ông Huỳnh Văn V vay dùm số tiền 600.000.000đ. Lãi suất 6.000.000đ/tháng, đóng lãi hàng tháng, sau 06 tháng đến ngày 12/02/2024 sẽ trả tiền gốc. Ngoài số tiền vay, chị L, bà T còn nhờ bà M chơi dùm 02 phần hụi do bà Mai Thị T2 làm chủ hụi. Hụi đã hốt, còn phải đóng 13 lần, mỗi lần 10.000.000đ, đóng mỗi tháng kể từ ngày 12/8/2023. Có chữ ký tên của chị L và bà T. Chị L, bà T thừa nhận chữ ký tại Giấy vay tiền ngày 12/8/2023. Bà M trình bày, nguồn tiền cho chị L và bà T vay gồm: Vay của bà L1 200.000.000đ, của bà Mai Thị T2 110.000.000đ, vay Ngân hàng 150.000.000đ, tiền hụi của dây hụi ngày 29/7/2022 số tiền 40.000.000₫, tổng cộng 500.000.000đ, cộng với tiền lãi 100.000.000₫ bằng 600.000.000₫. Lời trình bày này của bà M và ông V phù hợp với giấy ghi chi tiết các khoản tiền vay và tiền lãi do chị L viết (BL.74). Như vậy có căn cứ xác định số tiền 600.000.000đ tại giấy vay tiền ngày 12/8/2023 có 500.000.000đ tiền gốc và 100.000.000đ tiền lãi, nên án sơ thẩm buộc chị L, bà T trả cho bà M, ông V số tiền gốc là 500.000.000đ và lãi suất 1%/tháng tính từ ngày lập biên nhận (12/8/2023) đến ngày 12/3/2024 với số tiền 35.000.000đ. Tổng cộng vốn và lãi là 535.000.000₫ là có căn cứ.

[2.3] Đối với tiền hụi, chị L trình bày số tiền 130.000.000₫ là tiền lãi 13 tháng (từ tháng 7/2022 đến tháng 8/2023) của số tiền 1.000.000.000₫ chưa đóng. Tuy nhiên theo nội dung giấy vay tiền ngày 12/8/2023 thể hiện chị L, bà T có nhờ bà M chơi dùm 02 phần hụi do bà Mai Thị T2 làm chủ hụi. Hụi đã hốt, còn phải đóng 13 lần, mỗi lần 10.000.000đ, đóng mỗi tháng kể từ 12/8/2023. Tức là từ ngày 12/8/2023 đến 12/9/2024 (13 lần), phù hợp với Danh sách hụi mở ngày 29/7/2022 và mãn vào tháng 9/2024 do bà Mai Thị T2 cung cấp. Do đó án sơ thẩm buộc chị L, bà T trả cho bà M, ông V số tiền 130.000.000đ không tính lãi là có căn cứ.

Từ nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận đơn kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2.4] Xét việc ông V và bà M tự nguyện rút lại đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa quyền sử dụng đất của bà Đặng Thị T là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và tuyên hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 03/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long và trả cho ông V và bà M 200.000.000đ tiền đảm bảo tại Ngân hàng N1 – Phòng giao dịch huyện T.

Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ.

Xét đề nghị của vị trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh V bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Lê Thị Thùy L là chưa đủ căn cứ.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên chị Lê Thị Thùy L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do chị L là người khuyết tật nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận đơn kháng cáo của chị Lê Thị Thùy L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 71/2024/DS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 116, 117, 118. 119; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Huỳnh Văn V, bà Phạm Thị M.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Lê Thị Thùy L.
  3. Buộc chị Lê Thị Thùy L và bà Đặng Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Văn V, bà Phạm Thị M tổng cộng số tiền 1.630.000.000đ (một tỷ sáu trăm ba mươi triệu đồng), lãi suất 135.000.000đ (một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Tổng cộng vốn, lãi 1.765.000.000đ (một tỷ bảy trăm sáu mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm nếu người phải thi hành án chưa trả xong số tiền trên thì phải trả thêm lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 03/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long và trả cho ông Huỳnh Văn V, bà Phạm Thị M 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) tiền đảm bảo theo Sổ tiết kiệm có kỳ hạn số AD 00025219478 của bà Phạm Thị M, ngày phát hành: 02/10/2024 tại Ngân hàng N1 – Phòng giao dịch huyện T.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho chị Lê Thị Thùy L.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND Cấp cao: 01;

- VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;

- Phòng KTNV&THA: 01;

- TAND huyện Trà Ôn: 01;

- THADS huyện Trà Ôn: 01;

- Các đương sự;

- Lưu: 06;

Đặng Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2024/DS-PT ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 252/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ vay tài sản giữa bà M với bà L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger