Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 252/2024/DS-ST

Ngày: 24/10/2024

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Thanh;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 357/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thanh T, sinh năm: 1973, (có mặt);

Địa chỉ: Ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Trúc L, sinh năm: 1977, (có mặt);

Địa chỉ: Ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ghi ngày 06/9/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thanh T trình bày:

Vào vụ Đông Xuân năm 2023, chị có tham gia 01 dây hụi do chị Lê Thị Trúc L làm đầu thảo. Dây hụi khui theo mùa vụ lúa 3 tháng khui một lần, gồm 20 phần, chị tham gia 01 phần, mỗi phần hụi có giá trị 5.000.000 đồng. Khi khui hụi, các bên thỏa thuận đóng 5.000.000 đồng hụi sống và 7.000.000 đồng hụi chết. Trong dây hụi này, chị đã đóng cho chị L được 04 kỳ hụi sống, khi đóng tiền hụi cho chị L không có biên nhận gì cả. Đến lần khui hụi thứ 05 chị đăng ký hốt hụi nhưng chị L không giao tiền hụi cho chị. Tổng cộng chị L còn nợ chị 0 kỳ hụi với số tiền là 28.000.000 đồng.

Chị đã nhiều lần nhắc nhở về số tiền hụi trên nhưng chị L cố tình không trả tiền. Nay chị yêu cầu chị L phải trả cho chị số tiền nợ hụi là 28.000.000 đồng, yêu cầu trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

* Theo bản tự khai ngày 02/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn chị Lê Thị Trúc L trình bày:

Chị Phạm Thanh T có tham gia 01 dây hụi do chị làm đầu thảo, cụ thể: Dây hụi khui theo mùa vụ lúa 3 tháng khui một lần, gồm 20 phần, chị T tham gia 01 phần, mỗi phần hụi là 5.000.000 đồng/3tháng. Khi tham gia hụi, chị và các hụi viên có thỏa thuận hụi sống đóng 5.000.000 đồng và hụi chết đóng 7.000.000 đồng. Chị T đóng cho chị 0 kỳ hụi sống với số tiền 28.000.000 đồng (Mỗi lần chị T đóng tiền hụi cho chị thì chị đều viết biên nhận tiền đưa cho chị T giữ). Sau khi chị T đóng tiền hụi vào kỳ hụi thứ 4 cho chị thì chị ngưng không khui hụi nữa. Đến khoảng tháng 4/2024 âm lịch thì chị đã trả lại cho chị T số tiền hụi là 28.000.000 đồng, khi trả số tiền này chị không có làm biên nhận và không ai chứng kiến, chị chỉ thu lại biên nhận của 04 kỳ hụi mà chị T đã đóng cho chị.

Đoạn ghi âm ngày 06/6/2024 mà chị T nộp cho Tòa án, chị đã nghe và xác định đúng giọng nói và nội dung mà chị đã nói nhưng do chị đã trả số tiền 28.000.000 đồng cho chị T rồi nên chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Phạm Thanh T yêu cầu bị đơn chị Lê Thị Trúc L trả số tiền nợ hụi, chị Trúc L có địa chỉ tại ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Xét giao dịch dân sự về việc tham gia góp hụi giữa chị T với chị L có lập thành văn bản, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật, được hai bên thống nhất thừa nhận nên Hội đồng xét xử công nhận.

2.2. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của chị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong giao dịch góp hụi trên, chị L là hụi viên đã thực hiện góp hụi theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Tại phiên tòa, chị L thống nhất với chị T về số kỳ hụi mà chị T đã đóng cho chị L trong dây hụi mùa Đông Xuân năm 2023 là 04 kỳ hụi với số tiền 28.000.000 đồng. Chị L cho rằng chị đã trả 28.000.000 đồng này cho chị T vào tháng 4/2024 nên không còn nợ tiền của chị T. Tuy nhiên, chị T không thừa nhận việc chị L có trả tiền cho chị, phía chị L cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh có trả tiền cho chị T. Đồng thời tại đoạn ghi âm vào ngày 06/6/2024 thể hiện nội dung chị L hứa trả số tiền của 04 phần hụi cho chị T nhưng quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị L lại cho rằng chị đã trả tiền cho chị T vào tháng 4/2024. Điều này cho thấy, lời trình bày của chị L là không phù hợp và không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 428, Điều 471 của Bộ luật dân sự, Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường thì việc chị L tự ngưng hụi là đơn phương chấm dứt hợp đồng, bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện đúng phần nghĩa vụ đã thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị L phải hoàn trả lại cho chị T số tiền đã góp hụi là 28.000.000 đồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 357, khoản 3 Điều 428; Điều 471, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 16, Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thanh T.

    Buộc chị Lê Thị Trúc L phải trả cho chị Phạm Thanh T số tiền 28.000.000 đ (Hai mươi tám triệu đồng), ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày chị Phạm Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Lê Thị Trúc L chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.

  2. Về án phí:
    • - Chị Lê Thị Trúc L phải chịu 1.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Hoàn lại cho chị Phạm Thanh T số tiền 700.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016867 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS huyện Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Phạm Thị Mỹ Nhanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2024/DS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 252/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thanh T. Buộc chị Lê Thị Trúc L phải trả cho chị Phạm Thanh T số tiền 28.000.000 đ (Hai mươi tám triệu đồng), ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger