TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 252/2024/DS-PT Ngày 30 - 9 - 2024 V/v tranh chấp chia di sản thừa kế |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Tấn
Bà Trần Thị Trâm Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lành - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp chia di sản thừa kế.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 203/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Dương Thị C, sinh năm 1962 ( có mặt).
- Bà Dương Thị L, sinh năm 1967 (có mặt ngày 25/9/2024, xin vắng mặt ngày 30/9/2024).
- Bà Dương Thị X, sinh năm 1980 (có mặt ngày 25/9/2024, xin vắng mặt ngày 30/9/2024).
Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Dương Thị C, bà Dương Thị X: Luật sư Đỗ Vinh Q - Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư thành phố C (có mặt ngày 25/9/2024, vắng mặt ngày 30/9/2024).
- Bị đơn:
- Ông Dương Văn L1, sinh năm 1974 (vắng mặt ngày 25/9/2024, có mặt ngày 30/9/2024).
- Bà Nguyễn Cẩm L2, sinh năm 1979 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số nhà B, tổ A, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L1, bà L2: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1992; địa chỉ: 278/46/77 T, khóm E, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, theo văn bản ủy quyền ngày 16/9/2024 (có mặt ngày 25/9/2024, vắng mặt ngày 30/9/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Văn T, sinh năm 1971 (có mặt ngày 25/9/2024, xin vắng mặt ngày 30/9/2024).
- Ông Ngô Thanh D, sinh năm 1970 (có mặt ngày 25/9/2024, vắng mặt ngày 30/9/2024).
- Bà Trần Thị D1, sinh năm 1970 (có mặt ngày 25/9/2024, xin vắng mặt ngày 30/9/2024).
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Dương Văn A (Võ Văn A1), sinh năm 1959; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt ngày 25/9/2024, vắng mặt ngày 30/9/2024).
- Người kháng cáo: Bà Dương Thị C, bà Dương Thị X - nguyên đơn; ông Dương Thị L3 - bị đơn;
- Người kháng nghị: Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyờn đơn bà Dương Thị C, bà Dương Thị L và bà Dương Thị X trình bày như sau:
Cụ Dương Văn R (chết 1990) và cụ Giảng Thị T1 (chết 2016). Lúc sinh thời cụ R và cụ T1 có 07 người con chung (chết 01 người tên Dương Văn M), còn lại 06 người tên Dương Văn A (Võ Văn A1), Dương Thị C, Dương Thị L, Dương Văn T, Dương Văn L1 và Dương Thị X. Vào năm 1999, sau khi cụ R chết, hộ cụ Giảng Thị T1 được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P. 825650, ngày 01 tháng 12 năm 1999, với diện tích đất là 34.536m², gồm 03 thửa: Thửa đất số 66, diện tích 14.783m² đang cố cho ông Ngô Thanh D và vợ là bà Trần Thị D1; Thửa đất số 70 diện tích là 5.183m² đang cố cho ông D và bà D1 (thửa đất này cụ T1 đã tặng cho bà Dương Thị X vào ngày 30/6/2004) và Thửa đất số 71, diện tích 14.570 m² ông L1, bà L2 đang canh tác thuộc tờ bản đồ 6-a, loại đất lúa, tọa lạc tại ấp H, xã H (nay là ấp H), xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Ngoài ra, cụ T1 còn để lại một miếng đất thổ cư và đất vườn, diện tích là 1.102m² thuộc thửa đất số 16, tách từ thửa 16, tờ số 16 (đất ONT + CLN) chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất và căn nhà tường hiện ông L1, bà L2 đang quản lý, sử dụng.
Bà C, bà L và bà X yêu cầu công nhận một phần di chúc của cụ T1 để chia thừa kế di sản gồm: Thửa đất số 66, diện tích là 14.783m²; thửa đất số 71, diện tích là 14.570m² cho 4 người gồm: Dương Thị C, Dương Thị L, Dương Văn L1 và Dương Thị X, đồng thời trích một phần tiền để trả các khoản nợ của cụ T1 nợ ông D, bà D1; X1 giữ nguyên hiện trạng đất của bà C đang sử dụng có diện tích chiều ngang mặt tiền giáp lộ H-Hòa Lợi tính từ vị trí giáp ranh đất ông D, bà D1 đo qua là 09m; Và từ vị trí 09m của bà C đo qua đến vị trí giáp ranh đất của ông Trương Bạch H2 là 9,5m và căn nhà tường trên đất do cụ T1 để lại cho bà X quản lý, sử dụng để thờ cúng; Xử buộc ông L1, bà L2 phải đi nơi khác ở và yêu cầu chia thêm một kỷ phần để bà X có điều kiện thờ cúng ông, bà, cha mẹ.
Bà X thừa nhận lúc cụ T1 còn sống có cố cho ông D, bà D1 thửa đất số 66 và 70 bằng 400.000.000 đồng trong đó bà X sử dụng cá nhân 100.000.000 đồng, còn lại 300.000.000đồng lo trị bệnh cho cụ T1 và bà X có hỏi vay thêm của ông D, bà D1 100.000.000 đồng để lo trị bệnh cho bà X do bị ông L1 đánh.
* Bị đơn ông Dương Văn L1 và bà Nguyễn Cẩm L2 trình bày:
Thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn về di sản của cha mẹ để lại là đúng. Tuy nhiên, đối với di chúc của cụ T1 là vô hiệu toàn phần nên yêu cầu Tòa án hủy di chúc và yêu cầu được chia thừa kế theo pháp luật cụ thể là: Công nhận 03 thửa đất số 66, diện tích 14.783m²; thửa đất số 71, diện tích 14.570m² và thửa đất số 16, tách từ thửa 16, tờ số 16 (đất ONT + CLN) là di sản thừa kế để chia đều cho 06 người gồm: Dương Văn A (Võ Văn A1), Dương Thị C, Dương Thị L, Dương Văn T, Dương Văn L1 và Dương Thị X, đồng thời trích một phần tiền để trả khoản nợ 300.000.000 đồng tiền cố đất của cụ T1 cho ông D, bà D1. ông L1, bà L2 xin nhận chia thừa kế bằng đất thuộc thửa số 71 và xin được sử dụng căn nhà tường của cụ T1 để lại để thờ cúng ông bà, cha mẹ.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Văn A (Võ Văn A1) trình bày: Ông là người con thứ 02 trong gia đình được cha mẹ gửi cho người Dì nuôi từ nhỏ. Trong Di chúc mẹ ông là bà Giảng Thị T1 có tặng cho ông 2,5 công đất ruộng tầm nhỏ. Phần này ông nhường lại cho người em tên Dương Văn L1 hưởng để thờ cúng cha mẹ, ngoài ra ông không có ý kiến gì khác.
- Ông Dương Văn T trình bày: Không có yêu cầu gì về tài sản của cha mẹ để lại. Đối với căn nhà tường do cụ T1 để lại thường thì giao cho con trai Ú sử dụng để thờ cúng ông bà, cha mẹ.
- Ông Ngô Thanh D và bà Trần Thị D1 trình bày:
Trước khi chết, bà Giảng Thị T1 và bà Dương Thị X có cố cho ông bà khoảng 18 công đất ruộng tầm lớn (tầm 03 mét) với số tiền là 400.000.000 đồng và có hỏi vay thêm 20 chỉ vàng 24k loại 98%, lãi suất thỏa thuận 70.000 đồng/ chỉ/tháng. Sau khi bà T1 chết, bà X mới nhận 20 chỉ vàng do cụ T1 hỏi và nhờ ông, bà hỏi vay giùm thêm 30 chỉ vàng 24k loại 98% lãi suất 80.000 đồng/chỉ/tháng và 100.000.000 đồng lãi suất 30.000 đồng/1.000.000đ/tháng. Tổng cộng là 500.000.000 đồng và 50 chỉ vàng 2K (loại 98%).
Nay ông D, bà D1 đồng ý do Tòa án Quyết định người nào đứng ra chuộc đất thì ông, bà cho chuộc và ông, bà sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P825650, vào sổ số H0H000992/QSDĐ, ngày 01 tháng 12 năm 1999 do cụ T1 đứng tên quyền sử dụng đất cho người đó (hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ T1 (bản chính) do ông D, bà D1 đang cất giữ).
Ông D, bà D1 yêu cầu đối với số vàng vay 20 chỉ từ ngày 11/11/2016 và 30 chỉ từ ngày 01/02/2017 tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/01/2024, cộng chung 2 khoản với lãi suất bằng 232.000.000 đồng và tiền vay 50.000.000 đồng từ ngày 10/5/2017 và 50.000.000đồng từ ngày 27/9/2017 tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/01/2024 cộng chung 2 khoản với lãi suất bằng 223.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm H1 trình bày: Xác định đã kiểm tra lại 02 thửa đất số 30 và 31 đủ diện tích, còn đối với thửa đất số 16, tách từ thửa 16, tờ số 16 (đất ONT + CLN) không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Phần di chúc của cụ T1 để lại được xác lập ngày 19 tháng 9 năm 2011 như sau:
“1. Dương Thị C thừa hưởng 5 công ruộng tầm nhỏ tại Kênh G, một khu đất thổ cư cặp sông X ngang 9m, dài 90m bằng 810m².
2. Dương Thị L thừa hưởng 5 công ruộng tầm nhỏ tại Kênh G.
3. Dương Văn L1 thừa hưởng 5 công ruộng tầm nhỏ tại Kênh G.
4. Dương Văn A thừa hưởng 2,5 công ruộng tầm nhỏ tại Kênh G.
Sau khi chia phần cho con, bà T1 còn lại 11.853m2 đất ruộng và 01 căn nhà cất trên đất thổ cư. Đất này trong số các con bà T1 ai thờ cúng cha (Ông R) thì được thừa hưởng 5.000m2 và sau khi bà T1 qua đời, ai thờ cúng mẹ thì được thừa hưởng 6.853m² và một căn nhà cất trên đất thở cư đó được UBND xã H chứng thực ngày 19 thỏng 9 năm 2011”.
- Phần di sản do cụ T1 để lại được Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định và định giá kết quả như sau:
1. Thửa đất số 16, tách từ thửa 16, tờ số 6, diện tích 1.102m² x 570.000đ/m² = 628.140.000đồng và tài sản gắn liền với đất (công trình xây dựng) gồm:
- Nhà ở: 5,9m x 17,48m = 103,13m2 x 20% x 5.203.291đ = 107.323.080 đồng;
- Nhà sau: 8,5m x 6,9m = 58,65m2 x 20% x 1.266.681đ = 14.858.168 đồng;
- Nhà tiền chế bên phải nhà chính: 2,6m x 17,43m = 45,32m2 x 40% x 1.097.559 đồng = 19.896.550 đồng;
- Chuồng heo: 5,1m x 12,9m = 65,79m2 x 20% x 413.586đ = 5.441.965 đồng;
- Nhà vệ sinh ngoài nhà: 1,46m x 2,2m = 3,21m2 x 90% x 5.074.323 đồng = 14.659.719 đồng;
- Nhà mồ: 2,5m x 4,3m = 10,75m² x 70% x 2.507.278 đồng= 18.867.267đồng;
Cộng chung: 809.187.000đ (tám trăm lẽ chín triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng);
2. Thửa đất số 71, tờ số 6a, diện tớch 14.652m² x 48.000đ/m² = 703.296.000 đồng (bảy trăm lẽ ba triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
3. Thửa đất số 66, tờ số 6a, diện tớch 13.914m² x 13.914m2 x 48.000đ/m² = 667.872.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Tổng cộng di sản có gía trị 2.180.355.000đ (hai tỷ một trăm tám mươi triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng);
- Riêng thửa đất số 70, diện tích 5.183m2 (thửa đất này cụ T1 đã tặng cho bà X và được đánh biến động sang tên quyền sử dụng đất cho bà Dương Thị X 9u7ng1 tên từ năm 2004 nên thuộc quyền sử dụng của bà X.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang quyết định:
- Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về chia thừa kế di sản theo văn bản di chúc của cụ Giảng Thị T1.
- Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của bị đơn về chia thừa kế di sản của cụ Giảng Thị T1 theo pháp luật.
- Xử chấp nhận cho bà Dương Thị L được hưởng phần giá trị chia di sản thừa kế số tiền là 376.071.000 đồng (ba trăm bảy mươi sáu triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
- Xử chấp nhận cho bà Dương Thị X được quyền sử dụng thửa đất số 71, tờ 6a, diện tích 14.652m² có giá trị 703.296.000đồng nhưng được trừ đi phần di sản thừa kế được hưởng 376.071.000 đồng, phần tiền còn lại bà X có nghĩa vụ chuộc đất và trả cho bà L số tiền giá trị chia di sản thừa kế 27.225.000 đồng (hai mươi bảy triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- Xử chấp nhận cho bà Dương Thị C được sử dụng thửa 16, tách từ thửa 16, tờ 16 loại đất thổ vườn ngang 09m tính từ vị trí giáp ranh đất ông D, bà D1 đo qua, chiều dài tiếp giáp phần đất còn lại sau hậu thuộc thửa đất số 16, đồng thời được nhận thêm phần giá trị chia di sản thừa kế số tiền 376.071.000 đồng (ba trăm bảy mươi sáu triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
- Xử chấp nhận cho ông Dương Văn L1 và bà Nguyễn Cẩm L2 được quyền sử dụng thửa đất số 66, tờ 6a, diện tích 13.914m² có giá trị 667.872.000 đồng (sáu trăm sáu mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng) và căn nhà tường trên nền đất thổ cư thuộc thửa 16, tờ 16 do cụ T1 để lại có giá trị 809.187.000 đồng (tám trăm lẻ chín triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng), cộng chung 1.477.059.000 đồng (một tỷ bốn trăm bảy mươi bảy triệu không trăm năm mươi chín nghìn đồng) nhưng được trừ đi gía trị di sản được hưởng (ông A 376.071.000đ + của ông L1, bà L2) = 752.142.000₫ (bảy trăm năm mươi hai triệu nột trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Do thửa đất số 16, tích từ thửa 16, tờ số 16 (đất ONT + CLN) chưa được cấp giấy nên bà Dương Thị X. Ông Dương Văn L1 và bà Nguyễn Cẩm L2 liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai để được hướng dẫn và làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Xử buộc bà Dương Thị X phải giao lại cho bà Dương Thị L giá trị chia thừa kế di sản số tiền 27.225.000 đồng (hai mươi bảy triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- Xử buộc ông Dương Văn L1 và bà Nguyễn Cẩm L2 phải giao lại cho bà Dương Thị C giá trị chia thừa kế di sản số tiền 376.071.000 đồng (ba trăm bảy mươi sáu triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) và cho bà Dương Thị L số tiền 348.846.000 đồng (ba trăm bốn mươi tám triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
- Xử buộc ông Ngô Thanh D và bà Trần Thị D1 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại đất cầm cố và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P825650, vào sổ số H0H000992/QSDĐ, ngày 01 thỏng 12 năm 1999 do cụ Giảng Thị T1 đứng tên sau khi bà Dương Thị Xuân C1 đủ số tiền cố đất 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).
- Xử không chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị X về việc xin được hưởng phần đất thổ cư và căn nhà tường gắn liền trên đất do cụ Giảng Thị T1 để lại.
- Xử không chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị X về việc xin được hưởng thêm một kỷ phần di sản để dụng vào việc thờ cúng ông bà.
- Xử đối với số vàng 50 chỉ vàng 24k loại 98% và 100.000.000 đồng vay của ông Ngô Thanh D và bà Trần Thị D1 do bà X nhận được tách thành vụ kiện khác khi ông Ngô Thanh D và bà Trần Thị D1 có yêu cầu.
- Đối với bà Nguyễn Thị Cẩm H1 tại phiên tòa không yêu cầu giải quyết, nghĩ nên miễn xét.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên lãi chậm trả, về chi phí tố tụng, án phí và báo quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024 nguyên đơn bà Dương Thị C, bà Dương Thị X và bị đơn ông Dương Văn L1 có đơn kháng cáo, đơn cùng đề ngày 30/01/2024 đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Những vần đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:
- Ông L1 yêu cầu tuyên bố di chúc cụ Giảng Thị T1 lập ngày 19/9/2011 là vô hiệu và phân chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật đối với thửa đất số 66, diện tích 13.914m², và thửa 71, diện tích 14.652m², tờ bản đồ số 6a cho các đồng thừa kế gồm bà Dương Thị C, bà Dương Thị L, bà Dương Thị X, ông Dương Văn T, ông Dương Văn A và ông Dương Văn L1 mỗi người một phần thừa kế bằng nhau. Giao toàn bộ căn nhà đất thuộc thửa 16, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.102m² cho ông L1, bà L2 được quyền quản lý để thực hiện nghĩa vụ thờ cúng ông bà cha mẹ. Ông L1, bà L2 không được quyền định đoạt như: chuyển nhượng, mua bán, tặng cho hay thế chấp ... đối với tài sản này. Đối với tiền nợ của cụ T1, ông L1, bà L2 chỉ chấp nhận cùng các đồng thừa kế khác thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ của ông D là 300.000.000 đồng (đã trừ đi 100.000.000 đồng bà X sử
dụng cho cá nhân bà X), còn khoản nợ 350.000.000 đồng mà các cá nhân nguyên dơn đã vay thì ông L1 không có trách nhiệm.
- Bà C và bà L yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C và bà L. Công nhận di sản thừa kế gồm QSD đất theo đo đạc thẩm định thửa 66, diện tích 13.914m², thửa 16, diện tích 1.102m², cùng tờ bản đồ số 6a, do UBND huyện G cấp GCNQSD đất số HOH000992 cấp ngày 01/12/1999 mang tên hộ bà Giảng Thị T1; dùng giá trị di sản thừa kế để ưu tiên trả hết số nợ cho ông Ngô Thanh D, còn lại chia đều cho các đồng thừa kế có yêu cầu chia thừa kế; Giao quyền sử dụng, định đoạt nhà ở và các công trình kiến trúc xây dựng khác trên thửa đất 16 cho bà Dương Thị X để làm nơi hương hỏa, thờ cúng cha mẹ. Đồng thời bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Dương Văn L1.
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng có Quyết định kháng nghị đề nghị cấp phúc thẩm Hủy Bản án dân sự sơ thẩm 10/2024/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Dương Thị C, bà Dương Thị X bà bị đơn ông Dương Văn L1, giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, lý do là cấp sơ thẩm chưa xác minh thu thập đầy đủ chứng cứ.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị C, bà Dương Thị X và bị đơn ông Dương Văn L1 về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn:
Xét thấy, sinh thời cụ R và cụ T1 có tạo lập được một số tài sản, cụ R chết năm 1990, cụ T1 chết năm 2016, di sản để lại gồm:
Tại Tờ trích đo địa chính thửa đất số 16, diện tích 1.102m² và tài sản gắn liền với đất (công trình xây dựng); Thửa số 71, tờ số 6a, diện tích 14.652m²; Thửa số 66, tờ số 6a, diện tích 13.914m². Tổng di sản có giá trị theo kết quả định giá là 2.180.355.000 đồng. Hiện thửa số 66 và thửa 71 vợ chồng ông D, bà D2 đang sử dụng do cầm cố của cụ T1 (thửa 70 diện tích 5.183m² thửa này cụ T1 đã tặng cho bà Dương Thị X ngày 30/6/2004); Đối với diện tích đất thổ cư + vườn, 1.102m² được tách ra từ thửa 16, tờ số 16 (đất ONT + CLN) phần này chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất và căn nhà xây hiện ông L1, bà L2 đang quản lý sử dụng. Tất cả các thửa đất trên đều tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện G (nay là ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang).
Đối với phần tài sản này trước khi chết cụ T1 có lập di chúc để lại cho các con vào ngày 19/9/2011 được UBND xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang chứng thực cùng ngày thể hiện như sau:
“1. Dương Thị C thừa hưởng 5 công ruộng tầm nhỏ tại Kênh G, một khu đất thổ cư cặp Sông X ngang 9m, dài 90m bằng 810m²
2. Dương Thị L thừa hưởng 5 công ruộng tầm nhỏ tại Kênh Giáo Thình
3. Dương Văn L1 thừa hưởng 5 công ruộng tầm nhỏ tại Kênh Giáo Thình
4. Dương Văn A thừa hưởng 2,5 công ruộng tầm nhỏ tại Kênh G
Sau khi chia phần cho con, bà T1 còn lại 11.853m² đất ruộng và 01 căn nhà cất trên đất thổ cư. Đất này trong số các con bà T1 ai thờ cúng cha (Ông R) thì được thừa hưởng 5.000m² và sau khi bà T1 qua đời, ai thờ cúng mẹ thì được thừa hưởng 6.853m² và một căn nhà cất trên đất thổ cư”.
Các nguyên đơn bà C, bà L và bà X yêu cầu công nhận di chúc chia di sản thừa kế đối với thửa đất 66 và thửa 71 cho 04 kỷ phần gồm: Dương Thị C, Dương Thị L, Dương Văn L1 và Dương Thị X. Xét thấy, di chúc của cụ T1 chết để lại nhưng nội dung không thể hiện rõ đất đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất hay chưa, đất thuộc quyền sử dụng của ai, thuộc thửa nào, diện tích bao nhiêu và tọa lạc tại đâu. Cụ T1 không biết chữ, nội dung di chúc đánh máy có điểm chỉ ghi họ tên Dảng Thị T2 nhưng di chúc lập không có người làm chứng. Di chúc có UBND xã H chứng thực nhưng nội dung không đúng theo quy định tại Điều 630 và 631 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm công nhận một phần di chúc hợp pháp để chia thừa kế theo di chúc và phần còn lại chia theo pháp luật nhưng không xác định được phần nào là phần có hiệu lực và phần nào không có hiệu lực là không có căn cứ.
Ngoài ra, bị đơn ông L1 và bà L2 yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu, chia di sản thừa kế theo pháp luật. Đồng thời, có yêu cầu xem xét giải quyết đối với hợp đồng cầm cố QSD đất và nợ vay do cụ T2 chết để lại hiện vẫn còn nợ vợ chồng ông D, bà D2 từ đó mà vợ chồng ông D và bà D2 vẫn đang trực tiếp quản lý sử dụng đất. Xét thấy, cấp sơ thẩm chỉ thụ lý giải quyết về tranh chấp chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, tất cả các đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đều yêu cầu giải quyết về mối quan hệ tranh chấp hợp đồng cầm cố QSD đất, nợ vay của cụ T2 và yêu cầu xác định rõ trách nhiệm người kế thừa quyền, nghĩa vụ của cụ T2 phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại nhưng Thẩm phán giải quyết vụ án không hướng dẫn để đương sự khởi kiện bổ sung, khởi kiện độc lập để xem xét giải quyết triệt để vụ án nhưng lại chia thừa kế là chưa đúng theo quy định tại Điều 615 và 658 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông D, bà D2 cho rằng cụ T2 và bà X có cầm cố QSD đất và vay tiền, vàng của ông D, bà D2 ở hai thời điểm trước khi cụ T2 chết và sau khi cụ T2 chết với tổng số tiền là 500.000.000 đồng và 05 lượng vàng 24k. Mặt khác, có khoản nợ của cụ T2 và có khoản nợ của riêng bà X, ông bà yêu cầu xác định khoản nợ riêng cho từng người và trách nhiệm trả nợ đồng thời yêu cầu tính lãi suất nợ vay vàng, tiền theo thỏa thuận. Tuy nhiên, mối quan hệ này chưa được thụ lý giải quyết nên chưa có chứng cứ liên quan để đánh giá, xem xét đối trừ vào phần di sản trước khi chia cho người thừa kế được hưởng.
Giấy chứng nhận QSD đất của cụ Giảng Thị T1 thể hiện đất cấp cho hộ ông (bà) Giảng Thị T1, tổng diện tích là 34.536m² vào ngày 01/12/1999, đã hết hạn sử dụng năm 2020 nhưng không được cấp sơ thẩm trao đổi với UBND huyện G để xác định được việc cấp đất cho hộ gia đình cụ T1 thì cấp cho những ai trong hộ hay đất chỉ thuộc quyền sử dụng của riêng cụ T1. Do đó, việc xác định toàn bộ QSD đất cấp cho hộ ông (bà) Giảng Thị T1 là di sản của cụ T1 để chia thừa kế là chưa đủ căn cứ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các thành viên trong hộ được cấp đất chung với hộ của cụ T1.
Việc tranh chấp QSD đất giữa cụ T1 với bà Nguyễn Thị Cẩm H1 được UBND huyện G giải quyết tranh chấp tại Quyết định số 1079/QĐ-UBND ngày 18/8/2010 của UBND huyện G và Quyết định giải quyết khiếu nại số 335/QĐ-UBND ngày 28/01/2011 của UBND huyện G công nhận diện tích 563m² (đo đạc thực tế 616.9m²) cho cụ T1 (bút lục 237) nhưng Bản án sơ thẩm xác định phần đất này có diện tích là 1.102.0m² để chia thừa kế là nhiều hơn QSD đất của cụ T1.
Bà L2 là vợ ông L1 không thuộc hàng thừa kế của cụ T1 nhưng vẫn được cấp sơ thẩm chia cho bà L2 cùng được hưởng kỷ phần thừa kế với ông L1 và có quyền xác lập QSD đất cùng với ông L1 là không đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Văn T và ông Dương Văn A chưa có ý kiến như thế nào đối với kỷ phần của hai ông được hưởng nhưng Bản án nhận định ông T và ông A N lại cho ông L1 là không có căn cứ.
Hiện vợ chồng ông D, bà D2 đang trực tiếp quản lý sử dụng đất, số nợ vay của cụ T1 chưa được giải quyết xong, quyết định của Bản án tuyên không rõ ràng dẫn đến việc khó thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng nghị.
Hội đồng xét xử xét thấy nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng kháng nghị yêu cầu cấp phúc thẩm hủy Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang là có cơ sở chấp nhận như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.
[4] Từ những nhận định trên, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị C, bà Dương Thị X và bị đơn ông Dương Văn L1; Chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng và chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[5] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét lại khi giải quyết lại vụ án.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Dương Thị C, bà Dương Thị X và bị đơn ông Dương Văn L1 không phải chịu án phí phúc thẩm, do kháng cáo của bà C, bà X, ông L1 được chấp nhận.
Hoàn trả cho bà Dương Thị C số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0005673 ngày 02/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang; bà Dương Thị X số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0005674 ngày 02/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (do bà Dương Thị C nộp thay); ông Dương Văn L1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0005669 ngày 31/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (do Nguyễn Cẩm L2 nộp thay).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2024/DS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét lại khi giải quyết lại vụ án.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Dương Thị C, bà Dương Thị X và bị đơn ông Dương Văn L1 không phải chịu án phí phúc thẩm, do kháng cáo của bà C, bà X, ông L1 được chấp nhận.
Hoàn trả cho bà Dương Thị C số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0005673 ngày 02/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang;
Hoàn trả cho Dương Thị X số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0005674 ngày 02/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (do bà Dương Thị C nộp thay);
Hoàn trả cho ông Dương Văn L1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0005669 ngày 31/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (do Nguyễn Cẩm L2 nộp thay).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiên |
Bản án số 252/2024/DS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 252/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà C tranh chấp thừa kế với ông L
