TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 252/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09-9-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bình Dương
Ông Tô Văn Đức
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXX-ST ngày 15/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 146/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích P, sinh năm 1997 (xin vắng mặt)
- Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- * Bị đơn: Anh Shang H, sinh năm 1995 - Quốc tịch: Trung Quốc (vắng mặt)
- HKTT: thôn T, thị trấn Đ, quận T, thành phố B, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.
- Nơi đăng ký tạm trú tại Việt Nam: tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Hiện đang làm việc tại Công ty TNHH F - Khu công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Người phiên dịch của anh Shang H: Chị Tô Thị B, sinh năm 1993, Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị Bích P trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh S Huiqiang kết hôn ngày 19/12/2022 trên cơ ở tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, ban đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, về chung sống ở thôn C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng đầu năm 2023 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi với nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Sau nhiều lẫn hòa giải nhưng không thành, cuộc sống của hai vợ chồng vẫn không có nhiều tiến triển tốt, tình cảm ngày càng cạn kiệt và dần dần không còn tình cảm với nhau nữa. Đến nay vợ chồng đã không còn tình cảm với nhau, cuộc sống gia đình rơi vào tình trạng căng thẳng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân đã không còn đạt được. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện làm lành nhưng không thành, hai bên vẫn không thể có tiếng nói chung. Từ tháng 08/2023 vợ chồng anh chị chính thức sống ly thân, chị về nhà mẹ đẻ ở thôn C, xã H, huyện L sinh sống. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Shang H.
- - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Shang K, sinh ngày 24/9/2023, hiện nay đang sinh sống cùng chị. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị đề nghị anh Shang H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bản thân chị hiện đang buôn bán tạp hóa thu thập từ 6.000.000đồng - 9.000.000đồng / tháng nên có đủ điều kiện để nuôi con.
- - Về tài sản, công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Theo văn bản ý kiến ngày 31/5/2024, bị đơn anh Shang H trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Bích P kết hôn với nhau ngày 19/12/2022 và đăng ký kết hôn tại UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hiện nay giữa anh và chị P không chung sống cùng nhau, chị P ở nhà bố mẹ đẻ, còn anh sống tại Nhà trọ V. Giữa anh và chị P có xảy ra bất đồng quan điểm sống, không chung sống cùng nhau. Nay anh đồng ý ly hôn với chị P.
- - Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Shang K, sinh ngày 24/9/2023. Hiện cháu Shang K đang ở cùng chị P nên khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cháu Shang K cho chị P nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/01 tháng kể từ thời điểm ly hôn.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Trần Thị Bích P vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Shang H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích P. Xử:
Cho chị Trần Thị Bích P được ly hôn anh Shang H.
Về con chung: Giao cháu Shang K, sinh ngày 24/9/2023 cho chị Trần Thị Bích P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng nuôi con, anh Shang H cấp dưỡng nuôi cháu S Kexin 2.000.000đồng / tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày 09/09/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị Trần Thị Bích P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; anh Shang H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị P khởi kiện xin ly hôn anh Shang H và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Bị đơn anh Shang H là người quốc tịch Trung Quốc. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Shang H là người ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị P vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Shang H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bích P và anh Shang H kết hôn ngày 19/12/2022 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Shang Hui Q. Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Bích P, Hội đồng xét xử thấy: Chị P xác định quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023 và đã sống ly thân từ tháng 8/2023 đến nay không hàn gắn tình cảm được. Anh Shang H cũng xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và không còn chung sống cùng nhau nên anh đồng ý ly hôn với chị P. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh Shang Hui Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, xử cho chị P được ly hôn với anh Shang Hui Q.
[4]. Về nuôi con chung: Chị Trần Thị Bích P và anh Shang H có 01 con chung là cháu Shang K, sinh ngày 24/9/2023. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng chị P và do chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị P đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chắm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị P: Hội đồng xét xử thấy hiện nay cháu Shang K đang sinh sống cùng chị P, cháu còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần có sự chăm sóc của người mẹ. Anh Shang H cũng có ý kiến đồng ý giao con chung cho chị P nuôi dưỡng. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cho chị P được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Shang K.
Sau khi ly hôn anh Shang H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Shang H thực hiện quyền này. Trường hợp anh Shang H có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Trần Thị Bích P đề nghị anh Shang H cấp dưỡng con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tại văn bản ý kiến ngày 31/5/2024 của anh Shang H, anh Shang H đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/01 tháng kể từ thời điểm ly hôn. Mức cấp dưỡng các đương sự đưa ra là phù hợp nên Hội đồng xét xử tôn trọng ý kiến của các bên đương sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, buộc anh Shang H cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng /01 tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày 09/9/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
[5]. Về tài sản, công nợ chung: chị P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Trần Thị Bích P phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm; anh Shang H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích P.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Bích P được ly hôn anh Shang H.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Shang K, sinh ngày 24/9/2023 cho chị Trần Thị Bích P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, anh Shang H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh Shang H thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh Shang H phải cấp dưỡng nuôi cháu Shang K cho chị Trần Thị Bích P 2.000.000đồng/ 1 tháng. Thời gian cấp dưỡng từ ngày 09/9/2024 cho đến khi cháu Shang K đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Thị Bích P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001194 ngày 14/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trần Thị Bích P đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Anh Shang H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 252/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 252/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phương ly hôn Shang
