|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 252/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/09/2024.
V/v tranh chấp: xin ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Hồng Lợi
- Ông Trần Văn Nghiệm
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Thanh An – Kiểm sát viên
Trong ngày 09 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/06/2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐST- HNGĐ ngày 07/08/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/08/2024 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà NGUYỄN THỊ HOA HỒNG T - sinh năm 1989.
Địa chỉ: khu phố 5, Thị trấn V, huyện G, Tiền Giang.
* Bị đơn: Ông NGUYỄN HỒNG A - sinh năm 1984.
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện G, Tiền Giang
(Bà Thắm xin vắng mặt, ông An vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoa Hồng Th trình bày: bà và ông Nguyễn Hồng A cưới nhau với nhau năm 2012, có sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V. Sau khi cưới bà và ông A sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên bà và ông A sống ly thân từ tháng 5/2024 cho đến nay. Nay bà T yêu cầu xin ly hôn với ông An.
- Về con chung: có 1 cháu tên Nguyễn Thiên K – sinh ngày 27/10/2013, hiện cháu K đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
* Bị đơn ông Nguyễn Hồng A đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho ông A, nhưng ông A không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà A.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T xin vắng mặt.
Bị đơn ông Nguyễn Hồng A vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T; Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thiên K – sinh ngày 27/10/2013 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi, lao động được. Ông Nguyễn Hồng A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Hồng A được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về nợ chung; không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “xin ly hôn”.
[1] Xét nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T có đơn xin xét xử vắng mặt có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bà T.
[2] Xét bị đơn ông Nguyễn Hồng A đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông A vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt ông A.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T là có cơ sở. Vì bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T và ông Nguyễn Hồng A cưới nhau vào năm 2012, được sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thị trấn V số 111/2012 ngày 02/11/2012. Sau khi cưới bà T và ông A sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Đời sống chung kéo dài đến tháng 5/2024 thì bà T và ông A sống ly thân cho đến nay, mà giữa bà T, ông A vẫn không hàn gắn được tình cảm. Cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông A đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thiên K – sinh ngày 27/10/2013. Xét yêu cầu của bà Thắm là có cơ sở vì hiện tại cháu K đang sống với bà T đã ổn định cuộc sống, nếu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến tâm lý cũng như sinh hoạt bình thường của cháu K, đồng thời yêu cầu của bà T cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu K và phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: bà T yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi cháu K, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Xét yêu cầu này của bà T là có cơ sở vì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K cho bà T nuôi dưỡng nên ông An phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về mức cấp dưỡng thì theo quy định tại khoản 1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình thì mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nhưng bà T và ông A không thỏa thuận được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của ông A và nhu cầu thiết yếu của cháu K, đồng thời theo quy định của pháp luật, mức cấp dưỡng mỗi tháng không thấp hơn ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định là 1.170.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà T là phù hợp với Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình
[6] Về tài sản chung: bà T và ông A không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, nếu sau này bà T và ông A có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án khác.
[7] Về nợ chung: không có.
[8] Về án phí: do bà T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, ông A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên ông A phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 175, 177, 227, 228, 233, 235 Bộ luật tố tụng dân sự
- Áp dụng vào Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T.
Bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng A.
Về con chung:
giao cho bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thiên K– sinh ngày 27/10/2013 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi, lao động được. Ông Nguyễn Hồng A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 1.170.000 đồng (một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng), bắt đầu thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi, lao động được. Ông Nguyễn Hồng A được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
Về án phí:
bà Nguyễn Thị Hoa Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0009554 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, do vậy bà T đã nộp xong án phí.
Ông Nguyễn Hồng A phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Báo các đương sự vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án văn hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tuấn Anh |
4
Bản án số 252/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn
- Số bản án: 252/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà T ly hôn ông A
