Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2024/HS-ST

Ngày: 14 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Cao Biền và ông Phùng Văn Tầu
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 14/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 209/2024/TLST-HS ngày 12/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST-HS ngày 23/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Văn T, sinh năm 1995; CCCD số [...]; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm N, xã X, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông: Bùi Văn T1; con bà: Bùi Thị T2; Chưa có vợ, con; D chỉ bản số 419 do Công an quận H lập ngày 31/5/2024; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố H. Có mặt.

  2. Bùi Văn H, sinh năm 1994; CCCD số [...]; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm K, xã X, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Bùi Văn H1 (đã chết); con bà: Bùi Thị H2; Chưa có vợ, con; D chỉ bản số 420 do Công an quận H lập ngày 31/5/2024; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố H. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Đắc D1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ngõ E N, phường N, quận L, TP .. ĐT: 0934.469.xxx. Có đơn xin xét vắng mặt

* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1960. ĐKHK và trú tại: Số C, B, phường Q, H, Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Bùi Văn T, Bùi Văn H đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 36 phút, ngày 23/5/2024, Bùi Văn T sử dụng số thuê bao 0389.582.884 lắp trên điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xanh gọi điện đến số thuê bao 0523426491 lắp trên điện thoại di động nhãn hiệu Mastel IZI300 màu vàng của Bùi Văn H hẹn H đến ngõ F phố M, quận H, TP . Hà Nội đón T để cùng nhau đi tìm mua ma túy H3 sử dụng cho bản thân, H đồng ý. Sau đó, H điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệ u Honda Lead, sơn màu xanh, BKS 30F6- 0116 đến đón T tại đầu ngõ FM, khi g H, T nói “tao còn hai trăm, mày chơ tao đi mua “đồ” về anh em mình cùng sử dụng”, H trả lời “ok, tìm mua ở đâu?”, T nói “cứ đi đi tao chỉ đương cho”. T chỉ đường cho H điều khiển xe đi đến phố C thuộc tổ C phường Q, quận H, TP. Hà Nội. Tại đây, T và H nhìn thấy mô. t người đàn ông không quen biết, có dáng người gầy, giống người sử dụng ma túy. T bảo H dưng xe rồi đi bộ lại gần và mua đượ c của người này 01 (một) gói kích thước (0,8 x 0,8)cm, bên ngoài gói bằng giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng được bọc ngoài bằng nilong màu hồng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất gói ma túy vào trong túi quần trước bên phải đang mã c và quay lại báo với H đã mua đượ c ma túy, sau đó H chơ T đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe máy nhãn hiệ u Honda Lead, sơn màu xanh, BKS 30F6-0116 phía sau chở T mang theo ma túy cùng đi đến khu vư c trước số B Q, phường Q, quận H, TP . thì bị tổ công tác Y11/141- C2 phối hợp với Công an phường Q kiểm tra, phát hiệ n, bắt quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an quận H để điều tra theo thẩm quyền (BL 37-43).

Vật chứng thu giữ (BL 39-40):

  • 01(một) gói giấy bạc, kích thước (0,8 x 0,8)cm, bên trong có chứa chất bô. t màu trắng được bọc ngoài bằng nilong màu hồng, nghi là ma túy;
  • 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, sơn màu xanh, BKS 30F6-0116, số khung LWBTDH10681010347, số máy WH150MH08C01020, đã qua sử dụng;
  • 01(một) chiếc điện thoại di đô ng nhãn hiệu Realme C11, màu xanh, lắp sim số: 0389.582.884 và 01(một) chiếc điện thoại di đô ng Mastel IZI300 màu vàng, lắp sim số: 0523.426.491, đều đã qua sử dụng;

Ngày 23/5/2024, Cơ quan CSĐT- Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định số 3400 trưng cầu Phòng K - Công an thành phố H tiến hành giám định đối với gói giấy vật chứng (nghi là ma túy) đã thu giữ nêu trên. Tại Kết luận giám định số 3822/KL-KTHS ngày 01/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc (bọc ngoài bằng nilong màu hồng) là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,208 gam” (BL 62).

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Quá trình điều tra, T và H khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực phố C, tổ C, phường Q, quận H, TP . Hà Nội. Ngoài lời khai của T và H không còn tài liệu nào khác, cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ người bán ma túy cho T và H, đủ căn cứ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, BKS 30F6-0116, số khung LWBTDH10681010347, số máy WH150MH08C01020 đã thu giữ, kết quả điều tra như sau: Bùi Văn H khai mượn của anh Bùi Đắc D1, SN 1982, ở ngõ E N, phường N, quận L, TP . - là chủ thầu xây dựng nơi H làm việc, để làm phương tiện đi lại. Anh Bùi Đắc D1 khai nguồn gốc xe do anh mua trên mạng để sử dụng từ đầu tháng 5/2024, khi mua xe không làm giấy tờ mua bán chỉ kèm đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị H4; ngày 22/5/2024, anh cho H mượn để sử dụng làm phương tiện đi lại, không biết việc H sử dụng xe máy để đi mua ma túy. Kết quả tra cứu: Chiếc xe được đăng ký sở hữu mang tên chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1978; HKTT: Tổ A, phường B, quận L, TP .. Chị H4 khai mua năm 2008 và đăng ký tên chính chủ; năm 2021 do không có nhu cầu sử dụng nên đã bán lại cho người không quen biết có bàn giao giấy tờ xe. Chiếc xe hiện không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Cơ quan điều tra chuyển chiếc xe đến kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông để chờ quyết định xử lý.

Đối với 02 (hai) chiếc điện thoại di động (có lắp sim) đã thu giữ nêu trên đã được chuyển đến kho vâ t chứng của Chi cục Thi hành án dân sư quận Hà Đông để xử lý theo quy định.

Tại Bản Cáo trạng số 203/CT-VKS-HĐ ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Bùi Văn T, Bùi Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo T, H đều khai nhận và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với xã hội.
  • - Anh Bùi Đắc D1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có nguyện vọng được xin lại chiếc xe Honda Lead, màu sơn xanh, BKS 30F6-0116, số khung LWBTDH10681010347, số máy WH150MH08C01020 để làm phương tiện đi lại.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo T, H. Đề nghị tuyên bố bị cáo T, H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • + Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) khoản 1, khoản 2 (chưa có tiền án, tiền sự) Điều 51 Bộ luật hình sự; phạt T, H mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
    • + Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do các bị cáo không có việc làm, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
    • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
    • + Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động đã thu giữ của 02 bị cáo do đã sử dụng cho mục đích phạm tội.
    • + Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, BKS 30F6-0116, số khung LWBTDH10681010347, số máy WH150MH08C01020 (đã qua sử dụng): Đề nghị áp dụng Điều 228 Bộ luật dân sự, hết hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo công khai mà không xác định được chủ sở hữu thì trả lại cho anh Bùi Đắc D1.
    • + Đề nghị các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thẩm quyền: Vụ án xảy ra tại địa bàn quận H, Thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án được xác định là hợp pháp; các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
  3. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – anh Bùi Đắc D1: Xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của anh D1 và anh D1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt anh D1.
  4. Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo Bùi Văn T, Bùi Văn H tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

    Hồi 15 giờ 45 phút ngày 23/5/2024, tại khu vực phía trước số B đường Q, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội, Bùi Văn T và Bùi Văn H đã có hành vi cất giấu trái phép 01(một) gói ma túy loại Heroin, khối lượng 0,208gam để sử dụng thì bị tổ công tác Y11/141- Công an thành phố H phối hợp với Công an phường Q kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

    Hành vi nêu trên của Bùi Văn T và Bùi Văn H đã phạm vào tội “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

    Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:

    “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    • c) Heroine, C, Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam".

    Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố Bùi Văn T và Bùi Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điều, khoản, điểm nói trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Bùi Văn T, Bùi Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.

  5. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Cả hai bị cáo T, H đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Cả hai bị cáo T, H đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Đối với T, H cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly với xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe phong ngừa chung.

  6. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế để thi hành hình phạt bổ sung, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
  7. Về nguồn gốc số ma tuý: T khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực phố C, tổ C, phường Q, quận H, TP . Hà Nội. Ngoài lời khai của T và H, không còn tài liệu nào khác, cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ người bán ma túy cho T và H, đủ căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
  8. Về xử lý vật chứng:
    • Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, BKS 30F6-0116, số khung LWBTDH10681010347, số máy WH150MH08C01020: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh Bùi Đắc D1 sau khi hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo công khai tìm chủ sở hữu mà không có kết quả thì thấy: Chiếc xe này hiện không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng và người hiện đang đứng tên đăng ký chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe là chị Nguyễn Thị H4 đã xác nhận bán chiếc xe từ năm 2021. Anh Bùi Đắc D1 khai nguồn gốc xe do anh D1 tìm mua trên mạng từ đầu tháng 5/2024, khi mua xe không làm giấy tờ mua bán chỉ kèm đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị H4; ngày 22/5/2024, H mượn anh D1 để sử dụng làm phương tiện đi lại, anh D1 không biết việc H sử dụng xe máy để đi mua ma túy. Do vậy, phải xác định đến thời điểm ngày 22/5/2024 chiếc xe vẫn đang thuộc quyền sở hữu của anh Bùi Đắc D1 nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát quận Hà Đông về việc duy trì thủ tục đăng báo công khai thời hạn 01 năm để tìm chủ sở hữu, mà sẽ được trả cho anh Bùi Đắc D1 theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.
    • Đối với 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11, màu xanh, lắp sim số 0389.582.884 thu giữ của Bùi Văn T và 01(một) điện thoại di động Mastel IZI300 màu vàng, lắp sim số 0523.426.491 thu giữ của Bùi Văn H: Xét thấy T và H đã sử dụng để liên lạc rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • Đối với số ma tuý H5 đã được thu giữ là 0,208gam, cơ quan giám định đã thu mẫu để giám định là 0,014gam, còn là 0,194 gam được niêm phong trong phong bì có chữ ký niêm phong của Giám định viên, cán bộ Công an và của Bùi Văn T, Bùi Văn H (BL 59, 60): Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Các Bị cáo T, H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T, Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, phạt:
    1. Bùi Văn T: 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.
    2. Bùi Văn H: 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.
  3. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    1. Trả lại cho anh Bùi Đắc D1: 01 (một) xe máy đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, BKS 30F6-0116, số khung LWBTDH10681010347, số máy WH150MH08C01020.
    2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước
      • 01(một) điện thoại di đô ng nhãn hiệu Realme C11, màu xanh, lắp sim số 0389.582.884 đã qua sử dụng của Bùi Văn T.
      • 01(một) điện thoại di đô ng Mastel IZI300 màu vàng, lắp sim số 0523.426.491 đã qua sử dụng của Bùi Văn H.
    3. Tịch thu tiêu huỷ: Số ma túy Heroin còn lại sau khi giám định là 0,194 gam được niêm trong 01 (một) phong bì có chữ ký niêm phong của: Giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ Công an phường Q – Đỗ Tùng A và của Bùi Văn T, Bùi Văn H.

      (Số vật chứng, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2024, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông)

  4. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Bùi Văn T, Bùi Văn H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND Q. Hà Đông;
  • - Công an Q. Hà Đông;
  • - CC THA Q. Hà Đông;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo; NLQ;
  • - UBND nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 252/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger