TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 252/2025/HS-PT Ngày: 16 - 4 - 2025 |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán:
Ông Phan Nhựt Bình
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Hồng Vân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 34/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo Trần Thị Bích N, Trần Quang T.
Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 250/2024/HS-ST ngày 02-12-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Họ tên: Trần Thị Bích N, sinh ngày 31 tháng 3 năm 1985, tại Đồng Nai. Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký thường trú: 125/1, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: Từ tháng 6/2021 đến 10/2021 trú tại A B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.
Trình độ học vấn: Đại học kinh tế; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do.Con ông Trần Văn H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965. Tiền án, tiền sự: Không. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Chồng: Chưa có.
Con: được bà Nguyễn Thị N2 ủy quyền giám hộ cháu Nguyễn Trần Thiên Â, sinh ngày 20/10/2011.
Ngày 25/10/2021 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bắt tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 61/LBTG-CSKT(Đ4) ngày 28/6/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).
2. Họ tên: Trần Quang T, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1988, tại Đồng Nai. Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký thường trú: 125/1, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: Số A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.
Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Buôn bán.
Con ông Trần Văn H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965. Tiền án, tiền sự: Không.
Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 2000. Con: 02 người con sinh đôi năm 2021, 01 người con sinh năm 2022.
Ngày 03/8/2022 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bắt tạm tạm theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 297/LB-CSKT(Đ4) ngày 01/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (Có mặt)
- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Thị Bích N và Trần Quang T do Tòa án chỉ định: Luật sư Trần Quý T2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH T27 (gọi tắt Công ty T27) địa chỉ đăng ký hoạt động: 272/1, đường B tháng C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, mã số doanh nghiệp C5, mã số thuế 0313283677, đăng ký lần đầu ngày 02/6/2015 do Trần Trọng Lê K, sinh ngày 20/10/1989, cư trú: G, T, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu, đại diện theo pháp luật, có vốn đăng ký 1.000.000.000 đồng, danh mục ngành nghề được kinh doanh: Điều hành tour du lịch. Đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 03/3/2016, thay đổi tăng vốn điều lệ 1.800.000.000 đồng. Đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 26/6/2018, thay đổi trụ sở đăng ký kinh doanh tại A, H, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 24/7/2019, thay đổi chủ sở hữu là Trần Quang T, Trần Trọng Lê K vẫn là đại diện theo pháp luật. Đăng ký thay đổi lần thứ 4 ngày 01/8/2019, thay đổi Trần Quang T là chủ sở hữu, đại diện theo pháp luật. Công ty T27 kê khai tờ khai thuế giá trị gia tăng Quý 1 và Q 2 năm 2019 nhưng không phát sinh hoạt động mua bán, từ Q 3 năm 2019 đến nay chưa kê khai thuế.
Trần Thị Bích N, sinh ngày 31/3/1985, cư trú: 125/1 khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, trình độ học vấn: Đại học kinh tế, chuyên ngành xuất nhập khẩu. Sau khi tốt nghiệp đại học, N làm công việc tự do, sống tại B, Đồng Nai. N không được đào tạo chuyên ngành và không được cấp chứng chỉ hành nghề về hướng dẫn viên du lịch.
Trần Thị Bích N đi tour du lịch Trung Quốc, có gặp và quen với Trần Trọng Lê K. Sau khi về Việt Nam, ngày 02/6/2015 N hẹn gặp K và ký Hợp đồng lao động với K để giới thiệu khách cho K tổ chức đi tour du lịch. Tùy theo giá trị tour du lịch và loại vé máy bay khách hàng đặt mua mà N được K chia “hoa hồng” số tiền từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng. N đã giới thiệu cho K khoảng 30 khách đi tour du lịch, giới thiệu khách mua vé máy bay khoảng 40 - 50 lượt và được K chia lại khoảng 30.000.000 đồng.
Khoảng đầu năm 2018, Nguyễn Thanh C, sinh năm 1984, cư trú: Ấp A G, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; tạm trú tại phường L, B, Đồng Nai làm nghề lái xe ô tô dịch vụ chở khách, đã nhiều lần chở Trần Thị Bích N đi cùng với một số người từ B đi sân bay T. Qua nói chuyện, N giới thiệu làm bên du lịch, có khả năng đưa người đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài. N hỏi C có muốn đi lao động ở nước ngoài không, nếu muốn thì N sẽ giúp đỡ và chỉ cần đưa 1 phần chi phí, số chi phí còn lại sang nước ngoài lao động sẽ trả lại sau, nếu qua Úc, Canada thì thời gian lao động từ 01 năm đến 1,5 năm ở tại nông trại của người Việt, nếu muốn ở lại lâu hơn thì sẽ nhờ người ở đó bảo lãnh.
Nguyễn Thanh C quen với anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1977, cư trú: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú tại TP ., tỉnh Đồng Nai, cùng làm nghề lái xe ô tô dịch vụ chở khách. C nói với T4 được N hứa giúp đỡ C đi lao động nước ngoài và hỏi T4 có muốn đi cùng không nhưng T4 không trả lời. Tháng 11/2018, do bận việc nên C có nhờ T4 chở N đi từ B đến Ngã ba T, trên đường đi T4 hỏi N về việc đưa người đi nước ngoài lao động thì N nói có khả năng đưa người Việt Nam đi lao động xuất khẩu.
Tháng 02/2019, ông Vũ Minh Đ, sinh ngày 13/10/1977, đang cư trú tại B T, B, LA G, là linh mục tại B, bang L, Mỹ về Việt Nam thăm bố mẹ tại huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và chị gái tên Vũ Thị N3, sinh ngày 15/3/1968, cư trú: số I, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ông Đ nhờ Nguyễn Thanh C chở đi S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nhưng do bận nên C nhờ anh Nguyễn Văn T4 chở. Trên đường đi, T4 cho ông Đ biết Trần Thị Bích N nói có khả năng đưa người đi lao động xuất khẩu và hỏi ông Đ về mức lương bên Mỹ như thế nào. Ông Đ nói với trình độ học vấn của T4 (trình độ học vấn 6/12) khi sang bên Mỹ thì lương khoảng 3.000USD (Ba nghìn đô la Mỹ) đến 4.000USD (Bốn nghìn đô la Mỹ) nhưng để sang được Mỹ thì rất khó khăn. Nghe anh T4 nói vậy, ông Đ có ý định muốn cho bà Vũ Thị N3 đến Mỹ thăm thân nhân và cháu Trần Vũ Quỳnh N4 (là con gái bà N3, đã từng phỏng vấn đi du học C nhưng bị trượt) đến Mỹ để du học nên ông Đ nhờ T4 hẹn N gặp trực tiếp hỏi rõ sự việc. T4 điện thoại hỏi C xin số
điện thoại của N, sau đó điện thoại cho N hẹn gặp ông Đ và T4 để nói chuyện trực tiếp về việc đưa người đến Mỹ.
Tại quán Có thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn T4, Vũ Minh Đ, Trần Văn B (chồng bà N3) gặp, nói chuyện với Trần Thị Bích N và Trần Quang T (em trai N). Ông Đ hỏi N về cách thức đưa người Việt Nam đến Mỹ như thế nào, có đáng tin hay không. N khẳng định chắc chắn đưa được người Việt Nam đến Mỹ, không cần phải chứng minh thu nhập, không phải đặt tiền bảo lãnh, nhưng muốn đến Mỹ thì phải đi du lịch 8 đến 10 nước gồm các nước Đ, C, C, Úc, C1 do N tổ chức và điểm cuối cùng là từ Canada sang Mỹ. Chi phí trọn gói cho một người từ Việt Nam đến Mỹ là 350.000.000 đồng/1 người, thời gian thực hiện từ 8 tháng đến 10 tháng.
Tin tưởng cách thức đưa người Việt Nam đến Mỹ và cam kết của N, ông Đ và ông B đã đồng ý để chị Trần Thị Thu T3, sinh năm 1991, cư trú: số I, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, là cháu gái ông Đ đứng ra trực tiếp đưa tiền cho N để N làm thủ tục đưa bà N3 và Như đến Mỹ.
Sau đó, ông Đ nói với bạn bè đang cư trú tại Việt Nam và một số bạn bè là người Việt Nam đang cư trú tại Mỹ biết về cách thức đưa người Việt Nam đến Mỹ của N và cam kết chắc chắn đưa được người thân đến Mỹ vì bản thân ông Đ đang nhờ N đưa chị gái và cháu gái của mình đến Mỹ, ông Đ còn cam kết nếu N không đưa được người thân đến Mỹ thì ông Đ sẽ bồi hoàn lại tiền. Tin tưởng vào cam kết, hứa hẹn của N và uy tín của ông Đ, mọi người đồng ý giao tiền cho ông Đ nhờ đưa cho N để lo cho người thân đến Mỹ. Do ông Đ không thường xuyên ở Việt Nam nên đã nhờ Trần Thị Thu T3 đứng ra nhận tiền để giao lại cho N. Trong quá trình nhận hồ sơ và tổ chức tour cho mọi người đi du lịch, N thuê anh Nguyễn Duy Q1, sinh năm 1993, thường trú khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (là nhân viên của Công ty T27, sau khi K bỏ đi vào tháng 7/2019 thì Q1 tiếp tục làm việc cho N), Trần Quang T (em ruột của N) phụ giúp N đi nhận tiền, nộp hồ sơ xin visa du lịch, dẫn người đi du lịch theo tour. Mặc dù chưa bao giờ đến Mỹ, không biết rõ thủ tục xin visa đi Mỹ như thế nào, không biết chắc chắn N có khả năng đưa người đi du lịch, học tập, lao động ở nước ngoài nhưng Trần Quang T luôn khẳng định N làm được khi có người hỏi khả năng đưa người đi nước ngoài theo yêu cầu. Trong thời gian từ tháng 28/02/2019 đến tháng 9/2019, Trần Thị Bích N và sự giúp đỡ của Trần Quang T đã nhận 3.984.000.000 đồng của 14 người để cam kết đưa 21 người đến Mỹ, Canada, Úc để du lịch, du học và lao động. Cụ thể:
1. Đối với Vũ Thị N3 và Trần Vũ Quỳnh N4
Vũ Thị N3, sinh năm 1968; Trần Vũ Quỳnh N4, sinh năm 1999; Trần Thị Thu T3, sinh năm 1991, cùng cư trú tại I, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mong muốn qua Mỹ thăm ông Vũ Minh Đ theo lời mời của ông Đ nhưng bà N3, chị N4 không thể chứng minh tài chính và ông Đ cũng không làm thủ tục bảo lãnh cho N3, Như đến Mỹ được. Bản thân Như đã từng phỏng vấn du học ở Canada nhưng không được nên biết rõ thủ tục xuất cảnh vào Mỹ
rất khó. Thông qua giới thiệu, ông Đ nghe Trần Thị Bích N hứa có khả năng đưa người Việt Nam đến Mỹ nên đã hẹn gặp N để hỏi rõ sự việc, ông Đ kiểm tra thông tin của một người bạn trên facebook của N xác định người này đang định cư tại Mỹ nên đã tin tưởng nhờ N đưa bà N3, Như đến Mỹ.
Khi gặp nhau, Trần Thị Bích N giới thiệu mình là Phó Giám đốc Công ty T27, đang làm thủ tục mua lại Công ty T27 và N cam kết không cần chứng minh thu nhập, không phải đặt tiền bảo lãnh, nhưng phải đi du lịch các nước như Singapore, Malaysia, Hàn Quốc và một số nước C,... để có visa các nước này nhằm tạo uy tín khi xuất cảnh qua Mỹ.
Khoảng 19 giờ ngày 28/02/2019, Trần Thị Bích N đi cùng với Trần Trọng Lê K đến nhà bà N3 nhận 240.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) để đưa bà N3, Như đến Mỹ. Sau khi nhận tiền, N đưa Hợp đồng cung cấp dịch vụ du lịch là mẫu in sẵn đã có đóng dấu của Công ty T27 cho mọi người xem.
Khi xem hợp đồng, Trần Thị Thu T3 thấy Hợp đồng đại diện bên A là Trần Trọng Lê K nhưng Trần Thị Bích N lại ký tên trên phần đã đóng dấu Đại diện bên B và nội dung trên hợp đồng lại đi du lịch, hỗ trợ xin visa Hàn Quốc, Úc, Canada mà không nhắc đến Mỹ nên đã yêu cầu N giải thích, N trả lời Hợp đồng không quan trọng. Lúc này, Trần Trọng Lê K nói “Đây là khách của chị (N), chị N tự lo hồ sơ đến Mỹ, K không có liên quan”. Để tạo niềm tin cho chị T3 cùng gia đình, N đã ghi bổ sung phía dưới Hợp đồng nội dung: “Sau khi tới CANADA. Bên B (Trần Thị Bích N) sẽ chịu trách nhiệm bổ sung VISA Mỹ cho bên A theo đúng thỏa thuận của 2 bên”. Tin tưởng nên T3 đã ký tên phần đại diện bên A và giữ lại bản chính Hợp đồng này.
Sau khi nhận được tiền, N mua vé máy bay, đăng ký ghép tour với các công ty du lịch khác, đưa bà N3 và N4 đi tour Malaysia và Singapore vào ngày 30/3/2019, đi tour Nhật Bản vào ngày 15/4/2019. Sau chuyến đi tour N5, vào ngày 09/5/2019 N liên hệ T3 yêu cầu bà N3, Như ngày 10/5/2019 chuẩn bị Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và liên hệ với anh Nguyễn Thanh C để anh C chở đến Thành phố Hồ Chí Minh để làm giấy tờ nhưng không rõ làm giấy tờ gì. Sáng ngày 10/5/2019, anh C chở bà N3, Như đến Công ty T27, sau đó được N dẫn đến Văn phòng C7 để chứng thực hợp đồng góp vốn bằng tài sản với số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) vào Công ty T27, thời gian góp vốn là 5 năm. N giải thích việc ký hợp đồng góp vốn giữa bà N3, N4 chỉ chứng minh tài chính để đưa bà N3, Như đến Mỹ, không thực góp vốn.
Sau khi đi tour du lịch các nước, ký Hợp đồng góp vốn để chứng minh tài chính, bà N3 và chị Quỳnh N4 tin rằng N sẽ đưa đến Mỹ được nên đến ngày 12/5/2019, bà N3 tiếp tục giao cho T3 số tiền 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) để T3 đưa cho N. T3 đã hẹn gặp và đưa tiền cho N tại quán C8 đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau khi nhận tiền, N chỉ đưa bà N3, N4 đi Hàn Quốc vào ngày 04/7/2019 và đi Đài Loan vào ngày 14/8/2019. Do đợi lâu và nhiều lần liên hệ với N để hỏi việc đưa bà N3, chị N4 đến Mỹ
nhưng không liên lạc được với N. Biết đã bị Trần Thị Bích N lừa đảo chiếm đoạt tài sản, từ ngày 16/02/2019 đến ngày 15/6/2020, bà Vũ Thị N3, Trần Vũ Quỳnh N4 đã nhiều lần làm đơn tố cáo N gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đề nghị xử lý.
Các chi phí tổ chức tour bà N3, Như và T3 không biết, không nhớ rõ Công ty nào tổ chức tour.
(Bút lục 577, 579, 574 đến 591).
2. Đối với Nguyễn Văn Tuấn
Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 1977, cư trú: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, tạm trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai có trình độ học vấn 6/12 và đã lớn tuổi, đang chạy xe ô tô dịch vụ. Khi gặp Trần Thị Bích N, được N cho biết bản thân có khả năng đưa người đi lao động xuất khẩu với chi phí trọn gói: 350.000.000 đồng/1 người đến Mỹ, 280.000.000 đồng/1 người đi Canada, 230.000.000 đồng/1 người đi Úc. Sau khi xuất cảnh ra nước ngoài, N có thể giúp T4 xin việc với mức lương từ 4.000USD đến 5.000USD/1 tháng, thời gian lao động tại Úc là 3 đến 4 năm, thời gian lao động tại Canada từ 1 đến 2 năm, nếu muốn đến Mỹ thì phải từ Canada mới sang Mỹ được.
Khi anh T4 cùng với ông Vũ Minh Đ, ông Trần Văn B gặp N tại quán C6, nghe N nói có vợ chồng em gái tên Trần Thị Bích Nó đang cư trú tại Canada, có bạn ở Mỹ và được ông Đ gọi điện thoại xác minh đúng thông tin N nói nên anh T4 tin N sẽ đưa được mình đến Mỹ. Biết mục đích của anh T4 muốn qua Mỹ để lao động nhưng lại không có tiền nên ông Đ hứa cho anh T4 vay 120.000.000 đồng để giao cho N, khi nào đến Mỹ làm việc có lương thì trả lại cho ông Đ.
Sáng ngày 01/03/2019, T4 đến nhà người quen của ông Đ tại xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nhận số tiền 100.000.000 đồng, sau đó hẹn N đến nhà ông B, bà N3 để giao tiền. Tại nhà ông B, ông B đưa cho T4 số tiền 20.000.000 đồng theo ý kiến của ông Đ để giao cho N. T4 được N đưa cho Hợp đồng giống như mẫu hợp đồng N đã đưa cho T3, nội dung Hợp đồng chỉ có khác về thời gian giao tiền cụ thể: “Giá trị hợp đồng 350.000.000₫ (350.000.000đ/1 người), thuế VAT 35.000.000đ, tổng giá trị 385.000.000đ.
- Hình thức thanh toán: Đợt 1: 120.000.000đ (ngày 01/3/2019), Đợt 2: 120.000.000₫ (ngày 01/5/2019) và Đợt 3: 220.000.000đ (ngày 01/01/2020).”.
Sau khi giao tiền đợt 1, T4 được N tổ chức tour đi Malaysia và S ngày 30/3/2019 do Q1 và N dẫn đi, đi tour Nhật Bản ngày 15/4/2019.
Với mục đích đến Mỹ làm việc nhằm tăng thêm thu nhập và để có tiền đóng đợt 2, ngày 04/5/2019, Nguyễn Văn T4 đã bán chiếc xe ô tô hiệu Toyota Vios biển số 83A-068.34 cho Lê Hữu P, sinh năm 1998, cư trú: số A, đường số F, khu phố N, phường D, Thị xã D, tỉnh Bình Dương với số tiền 490.000.000 đồng bằng hình thức ký hợp đồng công chứng ủy quyền tại Văn phòng C9, địa chỉ: đường T, khu phố T, phường Đ, Thị xã D, tỉnh Bình Dương. Sau khi bán xe,
ngày 12/5/2019, T4 đã giao cho Trần Quang T là em trai N số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), T ghi xác nhận trực tiếp trên Hợp đồng đã nhận của T4 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Khoảng 2 ngày sau, T4 giao tiếp cho T số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) theo yêu cầu của N để làm visa mặc dù Thông tư 219/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ T28 quy định lệ phí cấp mới là 200.000 đồng và T đã chuyển lại cho N toàn bộ số tiền đã nhận được của T4.
Sau khi nhận thêm của T4 107.000.000 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu đồng), N tổ chức tour cho T4 đi Đài Loan. Như vậy, tổng số tiền N đã nhận của T4 là 227.000.000 đồng (hai trăm hai mươi bảy triệu đồng) nhưng không đưa được T4 đến Mỹ, Canada như đã cam kết, không trả lại tiền đã nhận của T4, chặn điện thoại, mạng xã hội (zalo, facebook) nên T4 không thể liên lạc được. Biết Trần Thị Bích N đã Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình, T4 làm đơn tố cáo N gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đề nghị xử lý. (Bút lục 172 đến 177, 592 đến 604, 776).
3. Đối với Tống Phước Hà
Tống Phước Hà, sinh ngày 21/8/1991, nơi cư trú 632, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai là anh họ của Đặng Trần Tú S1, sinh ngày 14/9/1999, nơi cư trú: 70, Đô Đốc L, Tổ F, phường X, quận C, thành phố Đà Nẵng và Trần Duy P1, sinh ngày 29/10/2002, nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Thông qua người quen ở Mỹ là Lý Bảo S2 đã giới thiệu H1 với ông Đ, qua trao đổi H1 được ông Đ cho biết Trần Thị Bích N hứa hẹn, cam kết chắc chắn đưa người Việt Nam đến Mỹ được với chi phí trọn gói 350.000.0000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng)/1 người, bản thân ông Đ đang nhờ N đưa chị gái và cháu đến Mỹ. Do có nhu cầu đưa 02 người em họ là Đặng Trần Tú S1, Trần Duy P1 đến Mỹ để du học nên H1 đã nhờ ông Đ thông qua N làm hồ sơ, thủ tục để đưa S1, P1 đến Mỹ.
Vào tháng 02 năm 2019, H1 có gặp trực tiếp ông Đ khi ông Đ về Việt Nam và được ông Đ cho biết hồ sơ, giấy tờ thì liên hệ với N để làm thủ tục đưa S1, P1 đến Mỹ, còn tiền thì giao cho Trần Thị Thu T3 để đưa cho N.
Ngày 17/6/2019 và ngày 8/8/2019, H1 chuyển 380.000.000 đồng vào tài khoản số [...] của Trần Thị Thu T3 mở tại Ngân hàng V5 Chi nhánh Khu công nghiệp B1 (ngày 17/6/2019 chuyển 100.000.000 đồng, ngày 8/8/2019 chuyển 280.000.000 đồng).
Sau khi giao tiền, H1 đã liên hệ và được Trần Thị Bích N hướng dẫn cung cấp hồ sơ để đưa S1, P1 đi tour du lịch 04 nước là Malaysia, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, mọi chi phí và hồ sơ thủ tục liên quan thì H1 không biết, không lưu giữ. (Bút lục 222, 265, 488, 489, 617 đến 621, 625 đến 630).
4. Đối với Hoàng Văn Dương
Hoàng Thị Bích Dung, sinh ngày 19/9/1996, nơi cư trú: khu phố L, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là cháu ông Hoàng Văn D1, đang cư trú tại địa chỉ: E P, B, LA G U (Mỹ). Ông D1 muốn cho D đến Mỹ du lịch thăm người thân đồng thời tìm hiểu việc du học tại Mỹ nên đã trao đổi với ông Đ và được ông Đ cho biết Trần Thị Bích N có thể đưa người đến Mỹ du lịch, cũng như ông Đ đang nhờ N đưa chị và cháu gái đến Mỹ. Ông D1 tin tưởng và đã đồng ý giao 7.600USD (Bảy ngàn sáu trăm đô la Mỹ) cho ông Đ nhờ gửi về cho N để đưa D đến Mỹ.
Hoàng Thị Bích D đã liên hệ với ông Đ được ông Đ cho số điện thoại của Trần Thị Thu T3 và Trần Thị Bích N để liên hệ. Khi liên lạc, N hứa hẹn làm hồ sơ thành công cho D đến Mỹ mà không cần chứng minh tài chính, công việc hay sổ tiết kiệm...chỉ cần đi du lịch nhiều nước để lấy visa đi du lịch Mỹ trong khoảng 8 đến 10 tháng. Thấy thủ tục đơn giản và được người quen của chú D1 giới thiệu nên D đồng ý. D trực tiếp liên hệ N để cung cấp cho N giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh,...
Từ ngày 09/3 đến ngày 12/3/2019, D được N tổ chức ghép tour đi du lịch Singapore và Malaysia với N, K, T, Q1, L2 là nhân viên Công ty T27. Từ ngày 15/5 đến ngày 19/5/2019, D được N tổ chức đi du lịch Dubai. Từ ngày 27/8 đến ngày 30/8/2019, D được N tổ chức đi du lịch Nhật Bản. Sau chuyến đi Nhật Bản đến nay, D không nhận được bất cứ thông báo nào tiếp tục đi du lịch hay đi đến Mỹ, D nhiều lần liên hệ với N bằng tin nhắn, gọi điện nhưng đều không được. (Bút lục 681 đến 686, 707, 708).
5. Đối với Hồ Thị Thu Thảo
Hồ Thị Thu Thảo, sinh ngày 22/9/1992, nơi cư trú: khu phố L, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (là chị họ của D) khi trao đổi với Hoàng Thị Bích D được D cho biết về ông D1, ông Đ và Trần Thị Bích N. Do Hồ Thị Thu T5 cũng muốn đến Mỹ để gặp ông bà nội đang cư trú tại Mỹ để giải quyết việc chia di sản thừa kế nên đã xin thông tin của N. Khi liên hệ với N, T5 được N hứa hẹn sẽ làm hồ sơ đưa đến Mỹ không cần chứng minh tài chính, sổ tiết kiệm, công việc...chỉ cần đi du lịch vài nước để lấy được visa đến Mỹ. Khi T5 liên hệ ông Đ để hỏi về chi phí để đến Mỹ, thì ông Đ cho biết chi phí là 16.000USD (Mười sáu ngàn đô la Mỹ) và nói giao tiền cho Trần Thị Thu T3 để T3 đưa cho N. Vào ngày 22/3/2019, 20/7/2019 T5 đã giao tổng số 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng) cho T3 để chị T3 đưa tiền cho N. Khi cần các giấy tờ để đăng ký tour, xin visa du lịch cho T5, N trực tiếp liên hệ. Từ ngày 11/5 đến ngày 14/5/2019, N tổ chức ghép tour cho T5 đi Singapore và Malaysia, từ ngày 1/6 đến ngày 04/6/2019 đi tour Nhật Bản, từ ngày 02/8 đến ngày 07/8/2019 đi tour Hàn Quốc.
Ngày 13/12/2019, T5 không thấy N thông báo sẽ tiếp tục đi du lịch để đến Mỹ nên T5 nhắn tin nhưng N không trả lời. Ngày 15/12/2019, T5 liên lạc với N
để yêu cầu trả lại hộ chiếu để T5 sử dụng đi Thái Lan nhưng N hứa hết lần này đến lần khác không trả lại. Ngày 20/02/2020, T5 nhắn tin cho N hỏi về hộ chiếu thì N đã chặn cuộc gọi, tin nhắn từ T5 nên T5 không thể liên lạc gọi, nhắn tin cho N được. Đến ngày 06/05/2020, T5 nhắn tin cho Trần Quang T hỏi về hộ chiếu, thì được T hẹn ngày 08/5/2020 có người mang xuống nhà. Ngày 08/5/2020 T đến gặp T5 trả lại hộ chiếu nhưng kèm theo biên nhận yêu cầu T5 ký vào. Nội dung trong biên nhận buộc T5 phải trả lại hộ chiếu trước ngày 23/5/2020 cho N nếu không sẽ không được khiếu nại gì sau này. Do lo sợ bị cắt ngang thỏa thuận đưa đến Mỹ nên ngày 25/5/2020, T5 lên B, đưa lại hộ chiếu cho T tại trước cổng Bệnh viện Đ4. Sau đó T5 đến nhà chị Phạm Thị Cẩm V (người đi cùng tour với T5) và gặp N tại đây. Khi T5 hỏi về việc đến Mỹ, thì N trả lời ông Đ và T3 là người hưởng lợi phần lớn tiền của T5, N chỉ nhận được một phần rất nhỏ nhưng phải bỏ tiền chi phí tổ chức tour cho T5.
Ngày 15/6/2021, T5 đã liên hệ với Trần Thị Thu T3 thì được chị T3 trả lại số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), trong đó số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) là tiền của T5 do chị T3 giữ lại để tiếp tục giao lần 3 cho N nhưng vì N không đưa T5 đến Mỹ được nên đã trả lại cho T5, còn số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) là tiền cá nhân của T3 bỏ ra để đưa lại cho T5.
Ngày 31/8/2020, Trần Quang T đã liên hệ gặp T5 và D trả lại hộ chiếu và cam kết sẽ tiếp tục tổ chức đưa T5 và D đến Mỹ khi hết dịch. Khi nào đến được Mỹ thì thanh toán đợt 3, đồng thời đưa cho T5, D “Bản cam kết về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng du lịch đã ký kết có chữ ký của N và đóng dấu Công ty T27” nhưng T5 và D không ký xác nhận. Sau đó Hoàng Thị Bích D và Hồ Thị Thu T5 đã làm đơn tố cáo N có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. (Bút lục 605 đến 610, 685, 686, 702 đến 705).
6. Đối với ông Lê Hải T6
Lê Hải T6, sinh năm 1968, là bố của Lê Minh K1, sinh ngày 06/7/1992, cùng cư trú: 04, đường N, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và Bùi Nguyễn Nhã T7, sinh ngày 22/02/2000, cư trú: 32D, T, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (em họ của K1).
K1 có người dì tên Nguyễn Thị Lan A (quốc tịch Mỹ, hiện đang định cư tại tiểu bang T, Hoa Kỳ). Bà Lan A có quen ông Vũ Minh Đ và được ông Đ cho biết có người quen là Trần Thị Bích N làm được giấy tờ, hồ sơ để đưa người Việt Nam đến Mỹ. Do đó Lan A đã liên hệ nhờ đưa Lê Minh K1 và Bùi Nguyễn Nhã T7 đến Mỹ để du lịch và thăm thân nhân.
Tháng 5/2019, Trần Thị Bích N điện thoại, hẹn gặp K1 tại quán cà phê A đường Đ (đối diện Bệnh viện Đ4) để nói chuyện đưa K1 đến Mỹ. Tại quán cà phê có N, Q1, K1 và ông Lê Hải T6 (bố K1), N khoe ông Đ nhờ N làm thủ tục đưa K1, T7 sang Mỹ mà không cần chứng minh tài chính, sổ tiết kiệm, công việc...chỉ phải đi du lịch từ 7 đến 8 nước xin visa du lịch các nước Singapore, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Úc, Canada. Lúc đến Canada sẽ ở lại nhà người thân của N, có người làm giấy tờ đưa K1 và T7 qua Mỹ. N nói tất cả giấy tờ, chi phí đã do dì Lan A làm việc với ông Đ, cùng ngày Q1 dẫn K1 đi làm hộ chiếu và giữ lại hộ chiếu để làm thủ tục đưa đến Mỹ.
Lê Minh K1 và Bùi Nguyễn Nhã T7 được N tổ chức đi tour: ngày 05/6/2019 đi Singapore và Malaysia, ngày 28/6/2019 ghép tour đi Nhật Bản nhưng chưa đưa tiền. Ngày 08/7/2019, ông Đ liên hệ với ông T6 đề nghị giao số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) cho chị Trần Thị Thu T3 để đưa cho N lo cho K1 và T7 đến Mỹ và cùng ngày ông T6 đã giao cho T3 số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Đến ngày 02/8/2019 K1 và T7 được N tổ chức ghép tour đi Hàn Quốc.
(Bút lục 215, 229, 480, 481, 490, 491, 635 đến 638, 760 đến 763).
7. Đối với Phạm Thị Kim L1
Đầu năm 2019, bà Phạm Thị Kim L1, cư trú tại Mỹ là em ruột Phạm Thị H2, sinh năm 1955 (mẹ của Nguyễn Kiều P2 và Nguyễn Việt C2) muốn đưa Nguyễn Việt C2, sinh ngày 05/01/1997 và em trai tên Nguyễn Kiều P2, sinh ngày 13/6/1999 cùng cư trú tại: H, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai đến Mỹ rồi tìm cách ở lại lao động kiếm tiền gửi về nhà. Bà L1 giới thiệu Trần Thị Bích N để P2, Chánh liên hệ cung giấy tờ làm thủ tục xuất cảnh.
Khi P2 và C2 gặp N, thì được N nói phải đi du lịch các nước để chứng thực thị thực của các nước thì mới đến được M hoặc Canada, N cam kết sẽ đưa P2, Chánh đến Mỹ được. Tin tưởng N có thể đưa đến Mỹ, P2 và C2 đã cung cấp giấy tờ, hồ sơ để N làm thủ tục đến Mỹ. Bà Phạm Thị Kim L1 giao cho ông Vũ Minh Đ 10.000USD (Mười nghìn đô la Mỹ) để gửi về cho Trần Thị Thu T3, để chị T3 giao cho N theo thỏa thuận.
Từ ngày 05/6 đến ngày 07/6/2019 N tổ chức cho P2, C2 đi Singapore và Malaysia. Từ ngày 28/6 đến ngày 02/7/2019 N tổ chức cho P2, C2 đi Nhật Bản. Từ ngày 10/8 đến 13/8/2019, N tổ chức cho P2, C2 đi Hàn Quốc.
(Bút lục 251, 258, 352, 482 đến 485, 639 đến 644, 656 đến 659).
8. Đối với Phạm Phi T8 và Trần Thị Diễm T9 (Thông qua anh S5, chị T3 ở 52/7 Lemenwood DR, B, LA G, U).
Phạm Phi T8, sinh năm 1984, cư trú tại Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Trần Thị Diễm T9, sinh năm 1990, cư trú ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thông qua người chị tên T3 và chồng tên S5 địa chỉ 5 L DR, B, LA G, U quen biết với ông Vũ Minh Đ và được ông Đ cho biết người quen là Trần Thị Thu T3 có thể đưa người qua Mỹ đi du lịch nên đã giới thiệu cho T8. Phạm Phi T8 đồng ý nhờ chị T3 làm hồ sơ cho T8 và T9 đi du lịch các nước với tổng số tiền 28.000USD (Hai mươi tám ngàn đô la Mỹ). Quá trình giao nhận tiền như sau: thông qua chị Đinh Thị Yến N7 sinh ngày 21/6/1968 ở 15/73, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là cô ruột của T8 và Đinh
Phạm Gia L2 là em gái của T8 đang du học và định cư tại 2779 C, B, LA 70816 xác nhận giao tiền và đưa tiền. Cụ thể lần thứ nhất T8 và T9 đưa cho T3 10.000USD (Mười ngàn đô la Mỹ) để T3 giao cho N, lần thứ hai ông Trần Thành M1 là cha ruột của chị Trần Thị Diễm T9 đưa cho ông Đ 10.000USD (Mười ngàn đô la Mỹ) vào ngày 26/9/2019 khi ông Vũ Minh Đ về Việt Nam làm giỗ cho mẹ mình, để nhờ ông Đ đưa cho N làm chi phí đưa Trần Thị Diễm T9 qua Mỹ nhưng ông Đ chưa gặp N để đưa. Sau khi ông Đ về Mỹ thì N qua Mỹ liên hệ với ông Đ lấy 10.000USD (Mười ngàn đô la Mỹ) và viết giấy xác nhận ngày 27/9/2019. Còn lại 8.000USD (Tám ngàn đô la Mỹ) do chị Đinh Phạm Gia L2 giao cho ông Vũ Minh Đ, nhưng do N chưa đưa T8 và T9 đi Mỹ được nên ông Đ chưa giao cho N. Sau khi nhận tiền N tổ chức cho T8 và T3 đi tour nước Singapore và Malaysia và đi một tour đi N do N dẫn đoàn.
(Bút lục 74 đến 76, 299 đến 308, bút lục 435, 695, 968, 710, 779, 780).
9. Đối với Trần Văn Lưu
Nguyễn Quang Vinh, sinh ngày 15/01/1989, cư trú tại: Tổ dân phố M, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định và Lê Thanh T10, sinh ngày 30/10/2003, cư trú tại: Thôn B, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định có mối quan hệ họ hàng với ông Trần Văn L3, cư trú tại địa chỉ: I A, Baton Baton R, L, U (Mỹ).
Đầu năm 2019, Trần Văn L3 đã liên hệ với V1, T10 và được V1 và T10 cho biết có quen biết với ông Vũ Minh Đ và cháu ông Đ là Trần Thị Thu T3 có thể thông qua Trần Thị Bích N để N đưa V1, T10 đến Mỹ đi du học. Trần Văn L3 giao cho ông Vũ Minh Đ 3.000USD (Ba ngàn đô la Mỹ) để chị T3 giao lại cho N làm thủ tục đưa V1 và T10 đến Mỹ. V1, T10 gặp, trao đổi với Trần Thị Bích N, N có hứa hẹn sẽ đưa V1, T10 đi du lịch các nước C trước, sau đó đưa đến Malta vào tháng 11/2019, từ M2 sẽ làm thủ tục đến Mỹ. V1, T10 được Trần Quang T nhập khẩu vào địa chỉ: 1, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai chủ hộ là bà Trần Thị Thu V2, sau đó được N tổ chức tour đi Singapore, Malaysia và Đài Loan nhưng đến nay N chưa đưa ai đến Malta và Mỹ, đang bị Ngọc giữ hộ chiếu.
(Bút lục 142, 361, 715, 716, 718, 719, 727 đến 729, 1357 đến 1359).
10. Đối với Bùi Nhật T11
Ông Bùi Nhật T11, cư trú tại G Chapman Hwy S, Knoxville, TN C, Hoa Kỳ có mối quan hệ họ hàng với Võ Thị Thùy T12, sinh ngày 12/5/1997, cư trú tại: E, đường P, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An và Nguyễn Ngọc Lâm T13, sinh 18/11/1999, cư trú tại: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Thông qua ông Vũ Minh Đ, ông T11 biết Trần Thị Bích N có thể đưa người qua Mỹ du lịch nên đã đưa 20.000USD (Hai mươi ngàn đô la Mỹ) cho ông Vũ Minh Đ để giao cho N làm thủ tục đưa T12 và T13 qua Mỹ du lịch. Từ tháng 6/2019 đến tháng 8/2019, T12 đã được N đưa đi du lịch các nước Singapore, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc nhưng chưa đưa được đi du lịch ở Mỹ.
Ngày 06/7/2020, Trần Quang T liên hệ với chị Võ Thị Thùy T12 và anh Nguyễn Ngọc Lâm T13 để trả lại P3 cho chị T12 và yêu cầu chị ký giấy cam kết trong 15 ngày phải giao lại P3 nếu không sẽ không được khiếu nại gì.
(Bút lục 237, 244, 361, 303, 304, 486, 487, 492, 493, 742 đến 744).
11. Đối với Nguyễn Thị Hồng N8 và Huỳnh Thị Cẩm T14
Trần Thị Diễm T9 và Nguyễn Thị Hồng N8 được ông Đ1 và C, số điện thoại 417-621-1891, địa chỉ: B M, J, MO F, United States đưa 28.000USD (Hai mươi tám ngàn đô la Mỹ) cho ông Vũ Minh Đ để giao cho N làm thủ tục đưa chị T9 và N8 qua Mỹ du lịch.
Nguyễn Thị Hồng N8, Huỳnh Thị Cẩm T14 chỉ biết người nhà của mình là ông Đ1 và Châu N9 ở bên Mỹ liên hệ với ông Vũ Minh Đ và N lo chi phí để đi du lịch Mỹ. Hiện chị N8, chị T14 đã được N tổ chức cho đi các nước Malaysia, Thái Lan, Nhật Bản và Hàn Quốc. (Bút lục 78, 79, 354 đến 373, 1259, 1260, 1264, 1265).
12. Đối với Vũ Minh Thể
Vũ Minh Thể sinh ngày 25/11/1974, cư trú tại: Thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là anh ruột của ông Vũ Minh Đ.
Vào khoảng tháng 5/2019, ông Vũ Minh Đ về nhà bà Vũ Thị N3 và gặp Vũ Minh T15. Do muốn đưa anh T15 qua Mỹ để du lịch và thăm thân nhân, khi nghe N có khả năng đưa qua Mỹ để du lịch với chi phí 350.000.000 đồng thì ông Đ đã gửi tiền về giao cho N thông qua Đinh Phạm Gia L2 và Đinh Thị Yến N7.
Sau khi nhận tiền, N đã đưa anh T15 đi du lịch hai đợt, cụ thể: thời gian từ ngày 05/6/2019 đến ngày 08/6/2019, anh T15 được N làm visa đi du lịch Singgapo và Malaysia, tiếp từ ngày 16/8/2019 đến ngày 20/8/2019, anh T15 được N làm visa đi du lịch Đài Loan. Anh T15 không biết chi phí là bao nhiêu, không được giữ hóa đơn, chứng từ.
(Bút lục 1307 đến 1309).
13. Đối với bà Đào Nguyễn Thanh T16
Bà Đào Nguyễn Thanh T16, sinh năm 1962, hộ khẩu thường trú tại 43/4 D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Thông qua mối quan hệ quen biết với Đào Nguyễn Thanh T16, Trần Quang T biết bà T16 có nhu cầu đưa con gái là Đỗ Đào Tú T17, sinh năm 1999, thường trú: 43/4, ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai định cư và lao động tại Canada nên đã cam kết sẽ đưa Đỗ Đào Tú T17 đi định cư và lao động tại Canada bằng đường du lịch với giá 450.000.000 đồng nhưng bà T16 nói không có tiền nên bà T16 đề nghị với T cho con gái mình đi du lịch một số nước C trước, khi nào gia đình bà T16 có tiền sẽ đưa cho T làm thủ tục sang định cư vào lao động
ở Canada sau. T đồng ý và đã tổ chức cho Đỗ Đào Tú T17 đi du lịch 05 lần, tiền chi phí do T17 tự bỏ ra, cụ thể:
- Tháng 4/2019, đi du lịch ở Malaysia và S3;
- Tháng 6/2019, đi du lịch ở Nhật Bản;
- Tháng 7/2019, đi du lịch ở Hàn Quốc;
- Tháng 9/2019, đi du lịch ở Đài Loan;
- Tháng 12/2019, đi du lịch ở Hồ N.
Bản thân T16 không có nhu cầu định cư và lao động ở nước ngoài nhưng muốn được đi du lịch nên vào khoảng tháng 12/2019, T16 được T và N cho đi du lịch ở S và Malaysia. (Bút lục 1865 đến 1895).
Bà Đào Nguyễn Thanh T16 tin tưởng Trần Thị Bích N và Trần Quang T có khả năng đưa người đi định cư và lao động ở nước ngoài bằng con đường du lịch nên T16 đã giới thiệu với những người quen liên hệ với T để đưa người nhà và bản thân đi định cư và lao động tại Canada hoặc Mỹ bằng còn đường du lịch cụ thể: Ninh Thị Thanh H3, Vũ Thị Thu H4, Trần Thị Thu H5, Nguyễn Thịnh V3, Vũ Thu H7, Vũ Viết P4, Nguyễn Thị Thanh X, Vũ Thị Bạch N10, Vũ Thy P5 là những người dân ở xã G và xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cụ thể:
14. Đối với chị Trần Thị Thu H5 và anh Trần Văn H6
Chị Trần Thị Thu H5 và anh Trần Văn H6, cư trú tại E, Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Anh Trần Văn H6 có nhu cầu định cư ở Canada nên thông qua Đào Nguyễn Thanh T16 giới thiệu, chị Trần Thị Thu H5 tin tưởng Trần Quang T có khả năng đưa người qua Canada định cư bằng con đường du lịch với tổng chi phí là 600.000.000 đồng. Trong thời gian từ ngày 10/9/2019 đến tháng 10/2019, chị H5 đã ba lần đưa 400.000.000 đồng và 3.000 USD, trong đó có lần vào ngày 04/5/2020 bà Đào Nguyễn Thanh T16 và Đỗ Đào Minh T18 trực tiếp đến nhà chị H5 lấy tiền sau đó đưa lại cho Trần Quang T.
Sau khi T chiếm đoạt tiền của anh H6, T và N cho anh H6 đi du lịch ba lần, lần thứ nhất đi Nhật Bản vào tháng 10/2019, lần thứ hai đi Đài Loan vào tháng 11/2019, lần thứ ba đi S và Malaysia vào tháng 12/2019. (Bút lục 1678 đến 1692).
15. Đối với chị Ninh Thị Thanh H3
Chị Ninh Thị Thanh H3, sinh ngày 30/4/1994, cư trú tại 1 D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Vào tháng 10/2019, do có nhu cầu đi lao động ở Canada nên thông qua Đào Nguyễn Thanh T16, chị H3 gặp Trần Quang T thỏa thuận ký hợp đồng du lịch nhưng là thỏa thuận để T đưa chị H3 qua lao động ở Canada với tổng chi phí 600.0000.000 đồng, hiện chị H3 giao tiền hai lần cụ thể ngày 22/10/2019
giao 300.000.000 đồng cho T tại nhà của bà T16, lần hai vào ngày 07/01/2020 giao 150.000.000 đồng tại nhà của chị H3. T và N làm visa cho H3 đi du lịch ở Nhật Bản vào tháng 11/2019, du lịch ở Đài Loan vào tháng 1/2020. Sau đó, T yêu cầu chị H3 nộp thêm 25.000USD để luật sư lo thủ tục visa đi Canada. Nghi ngờ bị lừa nên chị H3 thỏa thuận với T khi nào có visa thì nộp và yêu cầu Thái tính lại chi phí đi du lịch nhưng Thái cắt liên lạc. (Bút lục 1695 đến 1712).
16. Đối với chị Vũ Thy Phong T19
Chị Vũ Thy Phong T19, sinh ngày 11/02/1989, thường trú: A Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Vào ngày 16/11/2019, do có nhu cầu định cư và lao động ở Canada nên thông qua bà T16 và cô ruột là chị Vũ Thị Thu H7, chị T19 gặp T ký hợp đồng dịch vụ du lịch nhưng là thỏa thuận để T và N đưa chị T19 qua định cư và lao động ở Canada với tổng chi phí 600.000.000 đồng, hiện chị T19 đã hai lần giao tiền cho T, cụ thể lần thứ nhất ngày 16/11/2019 giao 300.000.000 đồng tại nhà chị T19 có bà T16 và chị H7 chứng kiến, lần thứ hai vào cuối tháng 1/2020 giao 150.000.000 đồng tại nhà chị T19.
Sau khi chiếm đoạt tiền của chị T19, T và N cho chị T19 đi du lịch ở S và Malaysia vào ngày 13/12/2019. Đến cuối tháng 02/2020, T yêu cầu chị T19 đưa thêm 25.000USD để luật sư làm thủ tục cấp visa, hồ sơ định cư ở Canada nhưng chị T19 nghi ngờ nên không nộp. (Bút lục 1714 đến 1722).
17. Đối với chị Vũ Thị Bạch N10
Chị Vũ Thị Bạch N10, sinh năm 1973, thường trú 25A/2 Ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Thông qua Đỗ Đào Tú T17 và Đào Nguyễn Thanh T16, chị N10 muốn cùng đưa hai con trai và chồng của mình đi định cư và lao động tại Canada nên chị Vũ Thị Bạch N10 đã ký hợp đồng dịch vụ du lịch để đưa người nhà đi du lịch ở Canada nhưng thật chất là thỏa thuận để T và N đưa đi định cư và lao động tại Canada bằng đường du lịch với tổng số tiền 900.000.000 đồng. Chị N10 đã đưa cho T hai lần với tổng số tiền 750.000.000 đồng, cụ thể lần thứ nhất ngày 28/7/2019 chị N10 đưa 550.000.000 đồng, lần thứ hai ngày 20/12/2013, chị N10 đưa 200.000.000 đồng.
Sau khi chiếm đoạt tiền của chị N10, T và N đã cho người nhà của chị N10 đi du lịch các nước sau:
- Ngày 10/8/2019, đi du lịch ở Hàn Quốc;
- Ngày 06/9/2019, đi Sangapo và Malaysia;
- Ngày 20/9/2019, đi Nhật Bản;
- Ngày 15/4/2020, đi Đài Loan;
- Ngày 24/5/2020, đi Trung Quốc.
Sau đó, T và Ngọc viện lý do dịch covic-19 nên tạm hoãn việc làm thủ tục và cắt liên lạc. (Bút lục 1724 đến 1736).
18. Đối với anh Nguyễn Thịnh V3
Anh Nguyễn Thịnh V3, sinh năm 1984, thường trú tại: Đ, ấp T, xã G, huyện T.
Thông qua Đào Nguyễn Thanh T16, anh V3 gặp Trần Quang T và nghe T có khả năng đưa người qua định cư và lao động tại Canada bằng đường du lịch với chi phí 500.000.000 đồng/ người. T cùng Trần Thị Bích N sẽ lo thủ tục vi sa và di du lịch một số nước để lấy thị thực du lịch, sao đó làm thủ tục định cư và lao động tại Canada. Anh V3 đã thỏa thuận với Trần Quang T để lo thủ tục định cư và lao động tại Canada cho 09 người gồm anh V3, chị Hoàng Thị P6 (vợ anh V3), Hoàng Thị Thủy T20, Hoàng Thị Yến N11, Hoàng Phi H8 (là em vợ của anh V3), hai con anh V3, ông Hoàng Văn C3 và bà Vũ Thị Thu H7 (cha mẹ vợ anh V3) với tổng số tiền thỏa thuận là 4.500.000.000 đồng, hiện gia đình anh V3 đã năm lần đưa tiền cho T với tổng số tiền 3.850.000.000 đồng. Cụ thể:
- Lần thứ nhất vào đầu tháng 9/2019, tại nhà bà Vũ Thị Thu H7, anh V3 đưa cho T 1.250.000.000 đồng có sự chứng kiến bà Đ2 Nguyễn Thanh T16;
- Lần thứ hai vào tháng 10/2019, tại nhà bà Vũ Thị Thu H7, anh V3 đưa cho T 650.000.000 đồng có sự chứng kiến bà Đào Nguyễn Thanh T16;
- Lần thứ ba cũng vào tháng 10/2019, tại nhà bà Vũ Thị Thu H7, anh V3 đưa cho T 900.000.000 đồng;
- Lần thứ tư vào tháng 11/2019, tại nhà bà Vũ Thị Thu H7, anh V3 đưa cho T 600.000.000 đồng có sự chứng kiến Đỗ Đào Minh T18;
- Lần thứ năm cũng vào tháng 11/2019, tại nhà bà Vũ Thị Thu H7, anh V3 đưa cho T 450.000.000 đồng.
Sau khi chiếm đoạt tiền của gia đình anh V3, T và N tổ chức cho gia đình anh V3 đi du lịch ba lần, cụ thể:
- Lần thứ nhất vào tháng 10/2019, anh Nguyễn Thịnh V3, chị Hoàng Thị P6, Hoàng Thị Thủy T20, Hoàng Thị Yến N11, Hoàng Phi H8 đi Nhật Bản.
- Lần thứ hai vào tháng 11/2019, Nguyễn Thịnh V3 và Hoàng Thị P6 đi Trung Quốc còn Hoàng Thị Thủy T20, Hoàng Thị Yến N11, Hoàng Phi H8 đi Đài Loan.
- Lần thứ ba vào cuối tháng 12/2019, gồm Nguyễn Thịnh V3, Hoàng Thị P6, Hoàng Thị Thủy T20, Hoàng Thị Yến N11, Hoàng Phi H8, hai con của anh V3 đi S và Malaysia.
Đến ngày 15/02/2020, Trần Thị Bích N gửi thông báo cho gia đình anh V3 để tạm ngưng hoạt động với lý do ảnh hưởng dịch covit-19. (Bút lục 1819 đến 1862).
19. Đối với chị Vũ Thị Thu H4
Chị Vũ Thị Thu H4, sinh ngày 13/12/1987, hộ khẩu thường trú tại: 1 D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Thông qua Đào Nguyễn Thanh T16, chị H4 gặp Trần Thị Bích N và tin N có thể đưa người qua Canada định cư và lao động bằng con đường du lịch với giá 500.000.000 đồng nên vào ngày 11/9/2019 chị H4 đưa cho Trần Thị Bích N và Trần Quang T 300.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt tiền của chị H4, N và T tổ chức cho chị H4 đi du lịch ở Trung Quốc vào tháng 11/2019. (Bút lục 1775, 1776).
19. Đối với anh Vũ Viết P4
Anh Vũ Viết P4, sinh ngày 20/12/1976, hộ khẩu thường trú: 184A/2 D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Thông qua Đào Nguyễn Thanh T16, anh P4 gặp Trần Thị Bích N và tin N có khả năng đưa người qua định cư và lao động tại Canada nên anh P4 thỏa thuận với N đưa gia đình anh P4 qua định cư và lao động tại Canada với tổng chi phí 1.600.000.000 đồng. Hiện anh P4 đã đưa cho T và N 800.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt tiền của anh P4, N và T đưa anh P4 đi du lịch bốn lần gồm: Malaysia và S3; Đài Loan; H; Trung Quốc. (Bút lục 1805, 1806).
Ngoài ra, quá trình điều tra xác định Trần Thị Bích N còn nhận tiền của một số người và hứa hẹn đưa họ đi du lịch Mỹ, tự Ngọc soạn hợp đồng đưa cho T16 để họ ký vào nhưng hiện chưa làm việc được với người liên quan, cụ thể:
1. Trần Thị Diễm T9 đăng ký trường trú tại K03, Tổ D, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 11/9/1019 đã chuyển hộ khẩu về địa chỉ: 1, khu phố E, phường T, B, tỉnh Đồng Nai, hiện T9 không cư trú tại địa chỉ K, Tổ D, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàug Tàu nên chưa làm việc được (Bút lục 75, 76).
Quá trình khám xét nhà của bị can Trần Thị Bích N đã thu giữ được Bản cam kết về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng du lịch đã ký kết có chữ ký của Trần Thị Bích N và đóng dấu Công ty T27, có chữ ký của Phạm Phi T8 và Trần Thị Diễm T9, nội dung bản cam kết tiếp tục để Công ty T27 thực hiện theo thỏa thuận tổ chức cho T8 và T9 đi du lịch.
Hợp đồng cung cấp dịch vụ du lịch do Trần Thị Bích T21 ghi nội dung đại diện bên B: Trần Thị Thu T3 đại diện cho Phạm Thị Cẩm V, Nguyễn Quách Tuệ T22, Hoàng Thị Bích D, Phạm Phi T8, Trần Thị Diễm T9, Nguyễn Thị Hồng N8, Huỳnh Thị Cẩm T14 ký ngày 10/04/2019 với tổng số tiền 2.450.000.000 đồng (Hai tỉ bốn trăm năm mươi triệu đồng). (Bút lục 468, 469, 476, 477, 1259, 1260).
2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tiến hành ủy thác điều tra cho Công an huyện N xác định Nguyễn Ngọc Lâm T13 không có mặt tại địa phương nên chưa tiến hành làm việc được. Hợp đồng cung cấp dịch vụ do Trần Thị Bích N ký với Nguyễn Ngọc Lâm T13, địa chỉ xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
vào ngày 06/05/2019, với tổng giá trị hợp đồng 350.000.000 đồng. (Bút lục 464, 465).
3. Bà Vũ Lan A1, cư trú tại địa chỉ: A R, CT B, L, U (Mỹ), giao cho ông Đ 11.500USD (Mười một ngàn năm trăm đô la Mỹ) nhờ chuyển tiền cho N để đưa Phạm Thị Cẩm V, sinh ngày 14/01/1984 và Nguyễn Quách Tuệ T22, sinh ngày 29/5/2005 (là con của Phạm Thị Cẩm V) cùng cư trú tại: 8, khu phố, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đi qua Mỹ du lịch. Sau khi đưa Phạm Thị Cẩm V, Nguyễn Quách Tuệ T22 đi du lịch một số nước Trần Thị Bích N liên lạc với để hai người này ký giấy xác nhận tiếp tục đi du lịch và không thắc mắc gì. (Bút lục 468 đến 469, 476, 477).
4. Vũ Văn T23, sinh ngày 11/11/1958, cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ủy thác cho Công an tỉnh Đ tiến hành điều tra, xác minh đối với T23, đến nay vẫn chưa nhận được kết quả trả lời. Quá trình khám xét nhà của Trần Thị Bích N vào ngày 25/10/2021 thu giữ được cuốn hộ chiếu C 7097039 của Vũ Minh T15 (Bút lục 21, 81, 82).
Vật chứng thu giữ:
Ngày 25/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ thi hành lệnh khám xét số 25/LKX-CSKT(Đ4), đối với nơi ở của Trần Thị Bích N tại địa chỉ: 1, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, đã tạm giữ 10 (mười) cuốn hộ chiếu bản chính và 01 điện thoại di động, cụ thể:
- 01 (Một) cuốn hộ chiếu số C6728481 của Nguyễn Văn T4.
- 01 (Một) cuốn hộ chiếu số C6697338 của Lê Thanh T10.
- 01 (Một) cuốn hộ chiếu số C7353432 của Bùi Nguyễn Nhã T7.
- 01 (Một) cuốn hộ chiếu số C7097039 của Vũ Minh T15.
- 01 (Một) cuốn hộ chiếu số C7445507 của Lê Minh K1.
- 01 (Một) cuốn hộ chiếu số C7553252 của Trần Duy P1.
- 01 (Một) cuốn hộ chiếu số C7443516 của Đặng Trần Tú S1.
- 01 (Một) cuốn hộ chiếu số B5952844 của Vũ Văn T23.
- 02 (Hai) cuốn hộ chiếu số C0058138 và C7509551 của Nguyễn Quang V1.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, số I 353891102041782.
- Quá trình bắt bị can để tạm giam, Trần Thị Bích N đã tự nguyện giao nộp 01 (một) dấu tròn của Công ty T27 (một) dấu tên Trần Quang T.
- 01 (một) USB màu trắng ghi nhãn hiệu Thaco chứa 03 file dữ liệu ghi âm giọng nói giữa Trần Quang T và Trần Thị Thu T3.
- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty T27 hữu hạn một thành viên đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 24/7/2019, lần thứ 4 ngày 01/8/2019 và hồ sơ đăng ký (Bút lục 985 đến 1003).
Kết quả khám xét nơi ở của Trần Quang T vào ngày 03/8/2022, thu giữ:
- Hợp đồng lao động giữa Trần Trọng Lê K – chức vụ Giám đốc Công ty TNHH T27 với Trần Thị Bích N, ký ngày 02/6/2015, có hiệu lực từ ngày 02/6/2015;
- Đơn xin nghỉ phép của Trần Thị Bích N từ ngày 01/7/2019 đến 05/7/219, có xác nhận của Trần Trọng Lê K vào ngày 31/5/2019.
- Sao chụp nội dung tin nhắn giữa Trần Thị Bích N và ông Vũ Minh Đ trao đổi số tiền N đã nhận, thủ tục đăng ký Passport cho người có nhu cầu.
- Bản kê chi tiết số tiền đã nhận từng đợt, sử dụng của N.
- Hình chụp passport cùng Hợp đồng N ký với Nguyễn Viết C4, Bùi Nguyễn Nhã T7, Lê Minh K1, Nguyễn Ngọc Lâm T13, Trần Duy P1, Nguyễn Kiều P2, Võ Thị Thùy T12, Đặng Trần Tú S1.
(Bút lục 1399 đến 1429).
Hợp đồng dịch vụ cung cấp dịch vụ du lịch Trần Thị Bích N với Trần Thị Thu H5 (Bút lục 1682, 1683, 1692, 1693); với Ninh Thị Thanh H3 (bút lục 1697, 1698, 1704, 1705); chị Vũ Thy Phong T19 (bút lục 1716 đến 1719); với chị Vũ Thị Bạch N10 (Bút lục 1726, 1727, 1735, 1736); với anh Nguyễn Thịnh V3 (bút lục 1832 đến 1835); với chị Hoàng Thị Thủy T20 (Bút lục 1836 đến 1839, 1844 đến 1855); với chị Vũ Thị Thu H7 (Bút lục 1840 đến 1843)
Tờ biên nhận do Đỗ Đào Minh T18 nhận 6.000.000 đồng của chị Trần Thị Thu H5 (bút lục 1689).
Tờ biên nhận do Trần Quang T nhận 300.000.000 đồng của chị Ninh Thị Thanh H3 (bút lục 1706).
Bản chụp màn hình tin nhắn zalo tài khoản của T với chị Ninh Thị Thanh H3 (Bút lục 1707 đến 1712).
Bản cam kết của Trần Quang T với anh Nguyễn Thịnh V3 về việc sẽ tiếp tục dịch vụ khi dịch bệnh ổn định (Bút lục 1856 đến 1857).
Thông báo tạm ngưng dịch vụ do Trần Thị Bích N gửi cho gia đình anh Nguyễn Thịnh V3 (Bút lục 1859 đến 1862).
Hồ sơ đăng ký kinh doanh của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T27 T24 thể hiện Công ty có hai thành viên là Trần Thị Bích N và Nguyễn Duy Q1, đăng ký ngành nghề kinh doanh là “Đại lý du lịch” (Bút lục 1950 đến 1977).
Kết quả xác minh tại Công ty cổ phần D2 (V6) thể hiện: Công ty V6 có ký hợp đồng hợp tác với Công ty T27 và Công ty T29, thời hạn hợp tác từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020, trong thời hạn này Công ty T29 đã giới thiệu cho Vietravel những khách hàng sau:
Phạm Thành A2, Phan Nguyễn Quỳnh N12 đi Nhật Bản; Lê Thị Ngọc A3 đi Úc (rớt visa); Lâm Thị Bích P7 đi Úc; Trần Trọng Lê K đi Mỹ; Ngô Đan Thanh Phương T25, Ngô Vĩnh V4 đi Trung Quốc; Nguyễn Thị Phương N13, Trần Thị Bích N đi Mỹ; Trần Thị Diễm T9 đi T; Phạm Hữu H9 đi Canada; Phạm Phi T8 đi T.
Kết quả xác minh tại Chi cục T30, Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H về Công ty T27 xác định: Công ty TNHH T27 (gọi tắt Công ty T27) địa chỉ đăng ký hoạt động: 153B, H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, mã số doanh nghiệp C5, mã số thuế 0313283677, đăng ký lần đầu ngày 02/6/2015, trụ sở tại 2, đường B tháng C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh do Trần Trọng Lê K, sinh ngày 20/10/1989, cư trú: G, T, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu, đại diện theo pháp luật, có vốn đăng ký 1.000.000.000 đồng, danh mục ngành nghề được kinh doanh: Điều hành tour du lịch. Đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 03/3/2016, thay đổi tăng vốn điều lệ 1.800.000.000 đồng. Đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 26/6/2018, thay đổi trụ sở đăng ký kinh doanh tại A, H, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 24/7/2019, thay đổi chủ sở hữu là Trần Quang T, Trần Trọng Lê K vẫn là đại diện theo pháp luật. Đăng ký thay đổi lần thứ 4 ngày 01/8/2019, thay đổi Trần Quang T là chủ sở hữu, đại diện theo pháp luật. Công ty T27 kê khai tờ khai thuế giá trị gia tăng Quý 1 và Q 2 năm 2019 nhưng không phát sinh hoạt động mua bán, từ Q 3 năm 2019 đến nay chưa kê khai thuế.
“Qua quá trình kiểm tra, Công ty TNHH T27 không có trong danh sách các doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa, quốc tế do Sở Du lịch quản lý trên địa bàn TP . (không có giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa hoặc quốc tế).
Việc cấp thị thực định cư hoặc không định cư đến Canada, Hoa Kỳ được quy định bởi Canada, Hoa Kỳ do các quốc gia này toàn quyền quyết định. Việc này không được quy định trong văn bản pháp luật Việt Nam.”. (Bút lục 901, 946 đến 1003, 1171).
Kết quả xác minh tại Cục Q2 Bộ C10 xác định: Trần Trọng Lê K, sinh ngày 20/10/1989, cư trú: 70/12/1, Nguyễn Sỹ S4, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã xuất cảnh qua cửa khẩu M3 vào ngày 09/8/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
(Bút lục 781 đến 900).
Bản phô tô Hợp đồng góp vốn, nội dung Trần Thị Bích N góp vốn vào Công ty T27 của Trần Trọng Lê K với số tiền 200.000.000 đồng, có xác nhận của Công chứng viên Nguyễn Duy S5 - Văn phòng C7 ở Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 20/12/2018 (Bút lục 208-209).
Thư từ chối Đại sứ quán C11 về việc Trần Vũ Quỳnh N4 phỏng vấn đi du học ở Canada (Bút lục 571).
Bản ảnh chụp màn hình nội dung tin nhắn Zalo giữa Trần Thị Thu T3 và Trần Thị Bích N, nội dung trao đổi việc N đưa người đi du lịch (Bút lục 417 đến 442). Trong đó có nội dung T3 hỏi N số tiền 07 người đóng lần 1 là bao nhiêu, N yêu cầu T3 chuyển tiền để N đóng tiền thế chân vào Lãnh sự, N nói đã đưa hồ sơ lên Lãnh sự rồi (Bút lục 514, 523, 526).
Ngày 14/10/2020 và ngày 03/11/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhận được đơn tố cáo, bản tường trình có dấu xác nhận công chứng (dấu N - East Baton R, LA – Summer Carmena – 061420) của ông Vũ Minh Đ được gửi từ địa chỉ: B T, Street B, LA 70805 (Mỹ) về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSKT), Công an tỉnh Đ theo là các giấy xác nhận giao nhận tiền có người làm chứng giữa ông Vũ Minh Đ và những người Việt Nam đang cư trú tại Mỹ giao tiền nhờ đưa người thân đang ở Việt Nam đến Mỹ.
Kèm theo đơn tố cáo Trần Thị Bích N, bản tường trình là giấy xác nhận của những người Việt Nam đang cư trú tại Mỹ giao tiền cho ông Đ nhờ chuyển cho N để đưa người thân của mình đến Mỹ.
Tờ giao nhận tiền giữa Đinh Phạm Gia L2 và Vũ Minh Đ được chụp gửi qua Mail do Trần Thị Thu T3 giao nộp vào ngày 04/01/2022. (Bút lục 1237 đến 1245).
Về dân sự:
Căn cứ vào hồ sơ tài liệu, chứng cứ có trong vụ án xác định Trần Thị Bích N và Trần Quang T đã chiếm đoạt của 22 người bị hại với tổng số tiền 10.984.000.000 đồng (Mười tỷ chín trăm tám mươi bốn triệu đồng), trong đó:
- Chiếm đoạt 9.020.000.000 đồng (Chín tỉ không trăm hai mươi triệu đồng) của những người ở Việt Nam giao tiền cho Trần Thị Thu T3 để đưa tiền cho N, bao gồm: 480.000.000 đồng của bà Vũ Thị N3 và Trần Vũ Quỳnh N4; 260.000.000 đồng của Hồ Thị Thu T5; 230.000.000 đồng của Phạm Phi T8 và Trần Thị Diễm T9; 380.000.000 đồng của ông Tống Phước H1 là người nhà của Đặng Trần Tú S1, Trần Duy P1; 400.000.000 đồng của ông Lê Hải T6 là người nhà của Lê Minh K1 và Bùi Nguyễn Nhã T7; 227.000.000 đồng của Nguyễn Văn T4Tuấn; 400.000.000 đồng của Trần Thị Thu H5; 450.000.000 đồng của Ninh Thị Thanh H3; 450.000.000 đồng của Vũ Thy Phong T19; 750.000.000 đồng của Vũ Thị Bạch N10; 800.000.000 đồng của Vũ Viết P4; 300.000.000 đồng của Vũ Thị Thu H4; 3.850.000.000 đồng của Nguyễn Thịnh V3.
- Số tiền còn lại là của những người bên Mỹ có nhu cầu đưa người thân qua Mỹ gom tiền đưa cho ông Đ, ông Đ giao lại cho Đinh Phạm Gia L2 là du học sinh đang định cư tại B C, B, LA G, USA. Sau đó chị L2 liên lạc với chị ruột là Đinh Thị Yến N7, sinh ngày 21/6/1968 trú 15/73, khu phố C, phường T, thành phố B xác nhận và tự quy đổi thành tiền Việt Nam để chị N7 đưa cho chị T3, giao cho N. Số tiền và người đưa tiền cho ông Trần Văn Đ3 gồm: 3.000USD
của ông Trần Văn L3 là anh họ của Nguyễn Quang V1 và Lê Thanh T10; 7.600USD của ông Hoàng Văn D1, là chú Hoàng Thị Bích D; 20.000USD của ông Bùi Nhật T11 anh họ của Võ Thị Thùy T12 và Nguyễn Ngọc Lâm T13; 10.000USD của bà Phạm Thị Kim L1 là dì của Nguyễn Việt C2 và Nguyễn Kiều P2; 28.000USD của ông Đ1 và Châu Nguyễn là người thân của Nguyễn Thị Hồng N8 và Huỳnh Thị Cẩm T14; 11.500USD của bà Vũ Lan A1 là người thân của Phạm Thị Cẩm V và Nguyễn Quách Tuệ T22; 20.000USD của chị T26 và chồng tên S5, là người thân của Trần Thị Diễm T9 và Phạm Phi T8. Hiện chị Đinh Thị Yến N7 đã xác nhận giao cho chị Trần Thị Thu T3 số tiền tương đương 89.000USD, số tiền chênh lệch ông Đ3 đã nhận 90.100USD so với số tiền L2 đã gửi về cho chị N7 là 1.100USD hiện chưa làm việc được với Đinh Phạm Gia L2 và ông Trần Văn Đ3 nên không xác định được ông Đ3 và L2 quản lý, sử dụng số tiền này như thế nào.
- Chiếm đoạt 10.000USD tương đương 233.00.000 đồng của chị Trần Thị Diễm T9 giao cho ông Vũ Minh Đ tại nhà bà Vũ Thị N3 khi ông Đ về Việt Nam làm giỗ cho mẹ, sau đó ông Đ cầm về Mỹ và N qua Mỹ nhận trực tiếp.
Hiện Trần Thị Bích N chưa bồi thường cho ai.
Quá trình điều tra, Trần Quang T khai nhận đã chia 680.000.000 đồng cho Đào Nguyễn Thanh T16 nhưng T16 không thừa nhận, T không có chứng cứ để chứng minh việc này (Bút lục 1665 đến 1667).
Vào các ngày 26/3/2021, 19/4/2021 và ngày 20/5/2021 chị Đinh Thị Yến N7 xác nhận đã giao cho ông Tống Phước H1, sinh năm 1991, địa chỉ: F, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai tổng số tiền 520.000.000 đồng (Bút lục 473 đến 475).
Sau khi Trần Thị Bích N không đưa được S1, P1 đến Mỹ thì ông Vũ Minh Đ đã chuyển tiền về Việt Nam trả lại tiền cho H1 thông qua bà Đinh Thị Yến N7 tổng số tiền 520.000.000 đồng (gồm 380.000.000 đồng tiền đưa S1, P1 đi Mỹ và 140.000.000 đồng do ông Vũ Minh Đ mượn riêng Đinh Thị Yến N7). Đặng Trần Tú S1 xác nhận năm 2021 đã nhận lại số tiền 280.000.000 đồng từ H1. Đinh Phạm Gia Linh xác nhận đã nhận 8.000USD của ông Vũ Minh Đ vào ngày 20/3/2020 (Bút lục 473-475, 621, 1237 đến 1245).
Phạm Phi T8, sinh năm 1984, cư trú tại Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục nhờ N tổ chức đi tour khi hết dịch. T8 khai nhận không thắc mắc, khiếu nại, tố cáo gì đối với ông Đ, Trần Thị Thu T3, Trần Thị Bích N và yêu cầu chính quyền không tiếp tục làm phiền mời làm việc với T8 nữa (Bút lục 299).
Ngày 07/12/2019, N cho Trần Quang T và Nguyễn Duy Q1 đến nhà T3 để làm việc, T có nói chỉ nhận của T3 số tiền 1.500.000.000 đồng, khi nghe T3 nói số tiền đã giao cho N là 3.877.000.000 đồng và cung cấp cho T giấy xác nhận tiền thì T nói sẽ có ngày hẹn N đến nhà T3 để nói chuyện. Đến ngày 11/12/2019, T đến nhà T3 hứa trả 01 tỉ đồng nhưng T3 không đồng ý vì lý do nếu trừ các chi
phí tour du lịch thì số tiền 01 tỉ đồng không đủ trả lại cho mọi người. Do không thống nhất được nên T đã thách thức T3 tố cáo. Nội dung cuộc nói chuyện đã được T3 ghi âm, sau đó cung cấp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
I. Truy tố: Cáo trạng số: 288/CT-VKS-P2 ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Trần Thị Bích N, Trần Quang T đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2024/HS-ST ngày 02-12-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
Tuyên bố các bị cáo: Trần Thị Bích N, Trần Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
1.1 Xử phạt bị cáo Trần Thị Bích N 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 10 năm 2021.
1.2 Xử phạt bị cáo Trần Quang T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 8 năm 2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, kiến nghị, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 03/12/2024 và ngày 09/12/2024, bị cáo Trần Quang T và Trần Thị Bích N lần lượt có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Trần Thị Bích N và Trần Quang T đều thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu.
Bị cáo Trần Thị Bích N giữ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang giám hộ cháu Nguyễn Trần Thiên  bị bệnh tăng động và tự kỷ.
Bị cáo Trần Quang T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo phạm tội lần đầu, phạm tội với vai trò giúp sức; bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi 03 con nhỏ.
Luật sư Trần Quý T2 bào chữa cho các bị cáo Trần Thị Bích N và Trần Quang T trình bày: Thống nhất với tội danh mà cấp sơ thẩm xét xử, tuy nhiên bị cáo còn cha mẹ già, các bị cáo hiện còn nuôi ba con nhỏ, các bị cáo cũng rất ăn năn về hành vi của mình mong muốn giảm nhẹ để sớm về hòa nhập để làm việc
và khắc phục hậu quả cho bị hại. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình, cấp sơ thẩm xét xử và lượng hình đã xem xét đầy đủ các tình tiết có lợi cho các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không đưa ra được tình tiết chứng cứ gì mới để xem xét làm căn cứ giảm nhẹ cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Thị Bích N và Trần Quang T đều thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính các bị cáo, bị hại, người làm chứng trong giai đoạn điều tra, với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
[2.1] Trần Thị Bích N không có trình độ chuyên môn, không được cấp chứng chỉ hành nghề hướng dẫn viên du lịch, không có khả năng tự tổ chức tour cho những người Việt Nam đi du lịch, Công ty T27 không có chức năng tổ chức tour du lịch trong và ngoài nước, can thiệp vào việc cấp thị thực đến Mỹ, Canada. Tuy nhiên, N tự nhận làm Phó Giám đốc Công ty T27 có chức năng tổ chức tour du lịch, làm thủ tục đưa người xuất cảnh vào Hoa Kỳ, C1 và đưa ra lý do muốn được cấp thị thực phải đi du lịch, qua đó để tạo niềm tin cho các bị hại nhờ N đưa người thân đến Mỹ, từ đó chiếm đoạt tiền của các bị hại. Với hành vi và thủ đoạn như trên, từ 28/02/2019 đến tháng 9/2019, N đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 22 người để cam kết đưa 41 người Việt Nam đến Mỹ và Canada với tổng số tiền 16.450.000.000 đồng, thực tế đã nhận tổng số tiền 10.984.000.000 đồng (Mười tỷ chín trăm tám mươi bốn triệu đồng) nhưng đến nay, N chỉ đưa những người này đi một số nước Đ, C, không đưa được ai đến Mỹ, Canada như đã cam kết, hứa hẹn và cũng không trả lại tiền cho những người này.
[2.2] Đối với Trần Quang T, T đã có hành vi giúp sức tích cực cho N trong việc thực hiện vi phạm tội, cụ thể: dù chưa được đến Mỹ, không biết thủ tục xin visa đến Mỹ thế nào và biết N không có khả năng tự tổ chức tour cho những người Việt Nam đi du lịch hay can thiệp vào việc cấp thị thực đến Mỹ,
Canada nhưng khi những người có nhu cầu đến Mỹ hỏi về khả năng đưa người qua Mỹ của N, T luôn khẳng định N làm được, qua đó tạo niềm tin cho các bị hại. T còn đi theo các tour du lịch do N mua cho những người có nhu cầu đi Mỹ để nắm bắt tư tưởng, động viên, khuyên bị hại tiếp tục; T còn phụ giúp N làm thủ tục xin cấp visa, nhập hộ khẩu cho Lê Thanh T10, Nguyễn Quang V1 vào hộ khẩu bà Trần Thị N14, địa chỉ: 1, tổ I, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, giao con dấu Công ty T27 cho Trần Thị Bích N tự ý sử dụng sau khi nhận chuyển nhượng Công ty T27 từ Trần Trọng Lê K. Khi khách có nhu cầu lấy lại visa thì T đưa visa cho họ và buộc họ ký vào tờ cam kết do N soạn thảo sẵn và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện gì. Sau khi không thực hiện thỏa thuận đưa người sang Mỹ, T thay mặt N đi thương lượng để giải quyết, thỏa thuận để các bị hại không tố cáo; ngoài ra, T còn trực tiếp thỏa thuận hứa hẹn và nhận 7.000.000.000 đồng và 3.000 USD (tương đương: 23.160 đồng/USD x 3.000 USD = 69.480.000 đồng (Bút lục 1285 – 1287)) của các bị hại chị Trần Thị Thu H5, chị Ninh Thị Thanh H3, chị Vũ Thy Phong T19, anh Vũ Viết P4, chị Vũ Thị Thu H4, chị Vũ Thị Bạch N10, anh Nguyễn Thịnh V3 để chiếm đoạt. Do đó, Trần Quang T phải cùng chịu trách nhiệm với Trần Thị Bích N đối với số tiền N đã chiếm đoạt.
[2.3] Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Thị Bích N và Trần Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của những bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục, và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tổ chức” và “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm a, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; đối với bị cáo Trần Thị Bích N đang phải giám hộ cháu Nguyễn Trần Thiên  bị bệnh tăng động và tự kỷ, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng quy định.
Xét thấy, số tiền các bị cáo chiếm đoạt là rất lớn, gấp nhiều lần mức khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự (500.000.000 trở lên). Các bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự nhưng lại có 02 tình tiết tăng nặng, và cũng chưa khắc phục được số tiền nào cho các bị hại. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo T 14 năm tù và bị cáo N 20 năm tù là đã có xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đối với các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo cũng không cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thị Bích N, Trần Quang T cũng như đề nghị của người bào chữa và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Trần Thị Bích N, Trần Quang T phải chịu, theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thị Bích N, Trần Quang T; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2024/HS-ST ngày 02-12-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tuyên xử:
- Tuyên bố các bị cáo: Trần Thị Bích N, Trần Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Bích N 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- Xử phạt bị cáo Trần Quang T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 8 năm 2022
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Trần Thị Bích N và Trần Quang T để đảm bảo thi hành án.
[2] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Trần Thị Bích N, Trần Quang T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Hồ Thị Thanh Thúy | Phan Nhựt Bình | Nguyễn Văn Minh |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 252/2025/HS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 252/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thị Bích N, Trần Quang T; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2024/HS-ST ngày 02-12-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
