Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30 – 5 – 2025

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Hà Thị Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dânÔng Võ Duy Bảo
Bà Bùi Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 201/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/5/2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Hồ Thị L, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
  • Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; hiện cư trú tại: Australia. Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Hồ Thị L trình bày: Chị và anh Trần Văn D kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 12/11/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi đăng ký kết hôn hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống và tính tình không phù hợp, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh D sinh sống và làm việc tại Úc từ năm 2022. Từ khi sang Úc anh D không liên lạc với chị L, chị L không biết địa chỉ của anh D, vợ chồng không còn quan tâm, không có trách nhiệm gì với nhau. Do cuộc sống chung của vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hạnh phúc gia đình không đạt được. Hiện nay chị L không còn tình cảm với anh D nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Văn D.

Về con chung: Chị Hồ Thị L và anh Trần Văn D có 03 con chung là Trần Bảo N, sinh ngày 10/8/2015, Trần Đăng K, sinh ngày 26/6/2017 và Trần Thị Hải Y, sinh ngày 02/12/2020. Ly hôn, chị L đề nghị Tòa án giao 03 (ba) con chung cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn là anh Trần Văn D hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân của anh Trần Văn D là ông Trần Văn T (là bố ruột của anh D) đến lần thứ hai mà thân nhân của anh D cũng không cung cấp địa chỉ của anh D ở nước ngoài cho Tòa án biết. Đơn trình bày ông T cho biết hiện anh D ở nước ngoài (Úc), anh D có liên lạc với ông T và gia đình qua điện thoại còn địa chỉ cụ thể của anh D thì anh D không cung cấp nên ông T không biết. Ông T cũng thông báo cho anh D biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa Chị L và anh D. Tuy nhiên cho đến nay, anh D không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại điều 70, 71 BLTTDS năm 2015. Bị đơn ở nước ngoài thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ nên chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại điều 70, 72 BLTTDS năm 2015.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Hồ Thị L và anh Trần Văn D được ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Trần Bảo N, sinh ngày 10/8/2015, Trần Đăng K, sinh ngày 26/6/2017 và Trần Thị Hải Y, sinh ngày 02/12/2020. Chị Hồ Thị L có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 (ba) con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Đề nghị Hội đồng xét xử giao 03 (ba) con chung cho Chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi theo quy định tại khoản 2, Điều 81, điều 82, điều 83, điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng chưa yêu cầu nên miễn xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét;

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định tại điều 147 BLTTDS năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn Tòa án phải tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hồ Thị L hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn D

2

hiện cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh Trần Văn D có địa chỉ cư trú xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Hồ Thị L đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhưng do bận công việc nên chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị L phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu và chứng cứ mà chị đã nộp cho Tòa án. Bị đơn anh Trần Văn D hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh D thông qua người thân là ông Phạm Trọng Đ (bố của anh D) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn “Yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh Trần Văn D”; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác. Đồng thời, yêu cầu anh D trình bày ý kiến về việc chị L có đơn ly hôn. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh D cũng không cung cấp địa chỉ của anh D ở nước ngoài cho Tòa án biết. Về phía ông N1 và bà N2 có đơn trình bày: Anh Trần Văn D là con của ông T. Hiện nay, anh D đang lao động tại nước Hàn Quốc, thường xuyên liên lạc về gia đình qua điện thoại. Ông T có hỏi địa chỉ của anh D ở nước Hàn Quốc nhưng anh D không cung cấp nên ông T không thể cung cấp địa chỉ của anh D ở nước ngoài cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, ông T đã thông tin cho anh D biết việc chị L nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Về phía anh D có trao đổi với ông T là đồng ý ly hôn và nhất trí giao con chung Trần Bảo N và Trần Đăng K và Trần Thị Hải Y cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 13/5/2025 và lần thứ hai vào ngày 30/5/2025 nhưng cả hai lần anh D đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh Trần Văn D vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị L và anh Trần Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L trình bày vợ chồng do quan điểm sống và tính tình không phù hợp, anh D đang sinh sống làm việc tại Úc, chị L đang ở Việt Nam, hai bên không còn liên lạc, quan tâm nhau. Xét thấy, Theo Công văn số 760/QLXNC-Đ1 ngày 11/3/2025 của Phòng Q, Công an tỉnh N cung cấp: Anh Trần Văn D đã xuất cảnh ngày 11/3/2023 qua cửa khẩu sân bay quốc tế T1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh D. Xét thấy,

3

hôn nhân giữa chị Hồ Thị L và anh Trần Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị L và anh D có 03 con chung là Trần Bảo N, sinh ngày 10/8/2015, Trần Đăng K, sinh ngày 26/6/2017 và Trần Thị Hải Y, sinh ngày 02/12/2020. Hiện con chung đang ở với chị L. Chị Hồ Thị L có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Xét hoàn cảnh thực tế của các bên thấy rằng hiện nay anh D đang sống và làm việc tại nước ngoài, nguyên đơn và thân nhân cũng không cung cấp được địa chỉ của anh D. Chị L có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng con chung để ổn định việc sinh hoạt và học tập cho các cháu. Xét thấy, nguyện vọng của Chị L là chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của con chung và điều kiện thực tế vì hiện nay anh D đang ở nước ngoài và cố tình giấu địa chỉ nên cần chấp nhận yêu cầu của Chị L. Về cấp dưỡng nuôi con, Chị L chưa yêu cầu và anh D cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Chị Hồ Thị L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 4 điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị L.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị L được ly hôn với anh Trần Văn D.
    • - Về con chung: Giao có 03 (ba) con chung là Trần Bảo N, sinh ngày 10/8/2015, Trần Đăng K, sinh ngày 26/6/2017 và Trần Thị Hải Y, sinh ngày 02/12/2020 cho Chị Hồ Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Hồ Thị L chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, anh Trần Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy

4

định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Chị Hồ Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013859 ngày 09 tháng 01 năm 2025.

3. Chị Hồ Thị L có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; anh Trần Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thờip hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Thanh Hương

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 252/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn L và D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger