Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ GẠO

TỈNH TIỀN GIANG

-Bản án số: 252/2025/HNGĐ-ST

-Ngày: 26/5/2025

- V/v: Xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài.
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Ông Nguyễn Hoa Kiều
    2. Ông Châu Văn Bình
  • - Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Sỹ Đăng Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: ông Nguyễn Chí Thiện Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 130/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về việc "Xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Phan Vủ Thủy T, sinh năm 1997 (có mặt)

    Địa chỉ thường trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang

    Nơi ở hiện nay: ấp Bình Ninh, xã Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

  2. Bị đơn: Huỳnh Hữu Đ, sinh năm 1995 (có mặt)

    Địa chỉ: ấp Bình Thọ 1, xã Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang

  3. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị N, sinh năm 1971 (có mặt)

    Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn Phan Vủ T trình bày: Chị và anh Đ tự nguyện tìm hiểu, cưới với nhau vào năm 2023, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 105 ngày 05/12/2023. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc cho đến năm 2024 giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cãi nhau, không có tiếng nói chung, anh Đ không lo cho gia đình, vợ con, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị T và anh Đ có con chung tên Huỳnh Đức T1, sinh ngày 08/6/2024 đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành.

Về tài sản chung: chị T và anh Đ đã tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng xong trước khi Tòa án tiến hành hòa giải, cụ thể: tôi và anh Đ tự thỏa thuận phân chia mỗi người 05 chỉ vàng 24k và 05 chỉ vàng 18k. Chị đã nhận đủ số vàng này, nên không tranh chấp nữa.

Về nợ chung: chị T trình bày chị và anh Đ không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn Huỳnh Hữu Đ trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị T nêu trong Đơn khởi kiện, bản tự khai về quá trình kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Thời gian qua, vợ chồng anh có mâu thuẫn và ly thân nhau. Anh không còn tình cảm vợ chồng với chị T nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: anh đồng ý để chị T tiếp tục nuôi con chung, anh chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng do công việc và thu nhập không ổn định.

Về tài sản chung: Anh và chị T đã tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng xong trước khi Tòa án tiến hành hòa giải, cụ thể: anh và chị T tự thỏa thuận phân chia mỗi người 05 chỉ vàng 24k và 05 chỉ vàng 18k. Anh giao cho chị T đủ số vàng này, nên không tranh chấp nữa.

Về nợ chung: Không có.

* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quyền, nhĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà là mẹ ruột của Đ và là mẹ chồng của T. Trước đây, bà có giữ dùm vợ chồng T, Đ số vàng cưới gồm 10 chỉ vàng 24k và 10 chỉ vàng 18k. Khi T nộp đơn xin ly hôn thì T, Đức tự thỏa thuận phân chia số vàng này và bà đã giao đủ số vàng 10 chỉ vàng 24k và 10 chỉ vàng 18k cho vợ chồng Đ, T và đã phân chia cho mỗi bên xong trước khi Tòa án tiến hành hòa giải xong.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đồng ý ly hôn chứng tỏ hôn nhân giữa anh, chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị T, ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T với anh Đ.

Đối với yêu cầu về con chung: cháu Huỳnh Đức T1 dưới 36 tháng tuổi và đang sống ổn định với chị T nên chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành là phù hợp quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, anh Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định chị và anh Đ xác định hiện nay không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến phát biểu của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Chị T và anh Đ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 105 ngày 05/12/2023 nên quan hệ hôn nhân giữa anh, chị được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bị đơn thường trú tại huyện C, tỉnh Tiền Giang. Nay chị T xin ly hôn với anh Đ, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "xin ly hôn", vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo và được giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Chị T yêu cầu ly hôn với anh Đ vì thời gian qua giữa vợ chồng sống không hạnh phúc, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Đ.

Xét thấy, mâu thuẫn ban đầu giữa vợ chồng không lớn nhưng anh, chị không tự khắc phục được để kéo dài làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và không có giải pháp nào hàn gắn tình cảm nên chị T xin ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải và tạo điều kiện về thời gian để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Đ cũng đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng chứng tỏ hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T với anh Đ.

[4] Về con chung:

Chị T và anh Đ có con chung tên Huỳnh Đức T1, sinh ngày 08/6/2024. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Anh T1 đồng ý giao chị T tiếp tục nuôi con chung.

Xét thấy, cháu T1 dưới 36 tháng tuổi và đang sống ổn định với chị T; anh Đ đồng ý giao chị T tiếp tục nuôi con do đó để đảm bảo cho con chung có cuộc sống ổn định, phát triển toàn diện về mọi mặt, cần giao chị T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung không ai được cản trở.

[5] Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung:

Quá trình giải quyết vụ án, chị T yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng vì anh Đ có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Anh Đ chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Tại phiên tòa, anh Đ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, bắt đầu cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con trưởng thành.

Xét thấy, tại phiên tòa chị T và anh Đ tự nguyện thỏa thuận anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, bắt đầu cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ và chị T đã tự thỏa thuận phân chia tài sản chung xong trước khi Tòa án tiến hành hòa giải, hiện nay không có tài sản chung và nợ chung nên anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị T phải nộp án phí xin ly hôn và anh Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Anh Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[9] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T với anh Đ; đối với yêu cầu về con chung, tài sản chung, nợ chung: đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị như nêu trên. Đề nghị này là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự
  • - Căn cứ các Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Vủ Thủy T.

  1. Về hôn nhân:

    Ghi nhận sự thuận tỉnh ly hôn giữa chị Phan Vủ Thủy T và anh Huỳnh Hữu Đ.
  2. Về con chung:

    • - Chị Phan Vủ Thủy T được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Đức T1, sinh ngày 08/6/2024.
    • - Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Phan Vủ Thủy T và anh Huỳnh Hữu Đ.
    • +Anh Huỳnh Hữu Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Huỳnh Đức T1 mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu) đồng, bắt đầu cấp dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
    • Kể từ khi chị Phan Vủ Thủy T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Huỳnh Hữu Đ chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng số tiền nêu trên thì hàng tháng anh còn phải trả lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
    • + Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

    Chị Phan Vủ Thủy T phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0008644 ngày 18/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo. Như vậy, chị T đã nộp xong án phí.

    Anh Huỳnh Hữu Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

  4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Gạo;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo;
  • - UBND xã Bình Phục Nhứt;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hoà sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Văn Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn

  • Số bản án: 252/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa Phan Vũ Thủy T - Huỳnh Hữu Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger