|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 252/2025/HC-PT
Ngày: 04/4/2025
Khiếu kiện quyết định hành chính trong
lĩnh vực đất đai
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai;
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu Hà;
Ông Bùi Anh Thắng.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Minh Ngọc, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số 76/2025/TLPT-HC ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” do có kháng cáo của người khởi kiện bà Đàm Thị T đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2024/HC-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3028/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Bà Đàm Thị T, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Mai N, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A phường N, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
* Người bị kiện: Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc C; chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện V; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc C; chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện V; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- UBND xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Mạnh T1, chức vụ: Chủ tịch UBND xã X; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Công ty Cổ phần T4; địa chỉ: Khu đô thị T - xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công H; chức vụ: Phó Tổng giám đốc; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1953; địa chỉ: P T7 CT18 G, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1948; địa chỉ: Thôn E, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn I, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn B xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Minh V, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông S, bà H1, bà T2, bà C1, ông M, ông C2, anh V: Bà Đàm Thị T, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
* Người kháng cáo: Bà Đàm Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Theo Biên bản giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình năm 1998 thể hiện, hộ bà Đàm Thị T có các nhân khẩu được giao đất nông nghiệp là các thành viên hộ gia đình gồm: Bà Đào Thị T3 (đã mất), bà Đàm Thị T, ông Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Minh V. Tổng diện tích được giao theo tiêu chuẩn nhân khẩu là 2.049,84m².
Gia đình bà đã bị thu hồi đối với các xứ đồng gồm: xứ đồng Ngòi (339,84m²), Ao Cá (230,4m²), Cầu V1 (72m²) và Thì Đ (64,8m²).
Ngày 24/04/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã chỉ đạo, tổ chức cưỡng chế thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình bà tại các xứ đồng Thì Đầm (64,8m²), Cầu V1 (72m²) tại địa bàn xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên để giao cho Công ty Cổ phần T4 (trước đây là Công ty cổ phần Đ1 - V) là chủ đầu tư dự án E.
Đối với thửa đất tại: Đ (339.84m²), Ao Cá (230,4m²) thì gia đình bà đã di dời tài sản trên đất do bị cưỡng chế từ ngày 08/01/2009 nên thửa đất này không nằm trong phạm vi bị cưỡng chế ngày 24/4/2012.
Hành vi chỉ đạo tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đã vi phạm các quy định của pháp luật đất đai, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bởi các lý do sau đây:
- Dự án Ecopark Văn G không chứng minh được lý do thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định tại Điều 39 Luật Đất đai 2003.
- Tại thời điểm cưỡng chế thu hồi đất, Chủ tịch UBND huyện V chưa đủ căn cứ pháp lý về văn bản phê duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp có thẩm quyền, không có Thông báo thu hồi đất, không ra quyết định thu hồi đất hoặc quyết định cưỡng chế thu hồi đất; không xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. UBND xã không niêm yết quyết định cưỡng chế thu hồi đất tại trụ sở UBND xã theo quy định.
- Chủ tịch UBND huyện V chỉ đạo tổ chức cưỡng chế thu hồi đất mà không bàn bạc với các hộ có đất bị thu hồi và Hội đồng nhân dân các cấp là trái pháp luật.
Người khởi kiện yêu cầu Tòa án: Tuyên bố hành vi cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V là trái quy định pháp luật; yêu cầu Công ty cổ phần T4 ngừng ngay hoạt động thi công và hoàn trả tài sản đất đai đã được bàn giao do hành vi cưỡng chế ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người bị kiện Chủ tịch UBND huyện V trình bày:
- Về chủ trương đầu tư:
Dự án Khu đô thị T được triển khai theo các Quyết định:
Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu hồi 5.540.712m² đất tại các xã X, P, C, L, T, thị trấn V thuộc huyện V; các xã H, Y, Y thuộc huyện Y và các xã Đ, T, D thuộc huyện K, tỉnh Hưng Yên; giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án xây dựng tuyến đường từ cầu T đi thị xã H đoạn từ huyện V đến xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng;
Quyết định 2549/QĐ-UB ngày 21/10/2004 của UBND tỉnh H về việc thu hồi 4.990.706m² đất theo Quyết định số 742/QĐ – TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ tại các xã X, C, Phụng C3 và thị trấn V; giao toàn bộ diện tích đất cho Công ty cổ phần Đ1 để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị T, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng (phần diện tích thu hồi tại xã X 1.219.348m²);
Quyết định số 2550/QĐ-UB ngày 21/10/2004 của UBND tỉnh H về việc thu hồi 550.006m² đất theo Quyết định số 742/QĐ – TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ tại các xã X, C, Phụng C3 và thị trấn V; giao 541.133m² đất cho Công ty cổ phần Đ1 để xây dựng đường từ cầu T đi thị xã H đoạn từ huyện V đến xã D, huyện K và 8.873m² đất để làm mương thủy lợi mới theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Ngày 8/6/2005, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 2006/QĐ-UB ngày 8/6/2005 về việc phê duyệt phương án bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, giao đất cho Công ty Cổ phần Đ1, để xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu Đô thị -, địa phận xã X, huyện V. Trong đó có nội dung bồi thường đất nông nghiệp cho các hộ dân là 466.605,82m² x 43.425 đồng/m².
- Về công tác giải phóng mặt bằng:
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V đã tiến hành kiểm kê, lập phương án trình UBND huyện V ban hành quyết định phê duyệt; tổ chức niêm yết công khai phương án bồi thường để người dân được biết và kiểm tra; tổ chức chi trả cho các hộ tự nguyện nhận tiền và bàn giao mặt bằng; chuyển tiền vào Ngân hàng đối với các hộ chưa nhận tiền (theo Công văn số 781/CV-STC ngày 29/9/2008 của Sở Tài chính tỉnh H).
Tổng số hộ gia đình đã nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng và bàn giao mặt bằng tính đến trước thời điểm thực hiện việc cưỡng chế là 1560 hộ/1720 hộ; tổng số hộ gia đình còn lại không nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng và không bàn giao mặt bằng tính đến trước thời điểm thực hiện cưỡng chế: 160 hộ. Diện tích phải cưỡng chế khoảng 5,86ha.
(Tính đến thời điểm hiện nay, số hộ gia đình đã nhận tiền giải phóng mặt bằng: 1623 hộ/1.720 hộ. Số hộ gia đình không nhận tiền giải phóng mặt bằng là 97 hộ).
- Về công tác tuyên truyền, vận động: Huyện ủy, UBND huyện V và UBND xã X đã tổ chức rất nhiều hội nghị họp dân và đối thoại để tuyên truyền, vận động, giải thích, thuyết phục các hộ dân ủng hộ dự án; phổ biến chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB cùng các khoản hỗ trợ của Chủ đầu tư nhằm đảm bảo lợi ích cho người có đất bị thu hồi (phát cho từng hộ dân bộ tài liệu tuyên truyền).
- Về công tác tổ chức cưỡng chế:
Do hộ gia đình bà Đàm Thị T không thực hiện quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền (Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2549/QĐ-UB ngày 21/10/2004 của UBND tỉnh H), không thực hiện việc nhận tiền bồi thường GPMB, không chấp hành việc di chuyển cây cối, hoa màu và các loại tài sản trên đất để thực hiện Dự án theo Thông báo số 34/TB – HĐBT ngày 23/11/2011 của Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V, cho nên hộ gia đình đã có hành vi vi phạm hành chính về pháp luật đất đai quy định tại Khoản 1, Điều 17 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai do “không trả lại đất đúng thời hạn theo Quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Ngày 05/12/2011, đại diện Hội đồng, UBND xã X và cơ sở thôn đã lập biên bản bàn giao đất với hộ gia đình ông M (chồng bà T). Theo đó, hộ gia đình ông M phải tiến hành bàn giao các thửa đất thu hồi vào dự án Khu đô thị thuộc địa phận xã X, các Xứ đồng gồm: Cầu Ván diện tích 72m² và Thì Đầm diện tích 64,8m². Tuy nhiên, hộ gia đình ông M không ký biên bản bàn giao đất.
Ngày 12/12/2011, UBND xã X lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông M với hành vi không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ngày 12/12/2011, Tổ công tác thôn đã tiến hành giao biên bản vi phạm hành chính nhưng ông M không ký biên bản.
Ngày 13/12/2011, Chủ tịch UBND huyện V (ủy quyền cho ông Chu Quốc H2 - Phó Chủ tịch UBND huyện theo văn bản ủy quyền ngày 02/12/2011) đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5406/QĐ – XPHC đối với ông Nguyễn Văn M vì đã có hành vi không thực hiện việc giải tỏa tài sản trên đất, bàn giao đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất và thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 39, Điều 40 Luật Đất đai 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 17 Nghị định số 105/2009/NĐ – CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Hình thức xử phạt là phạt tiền với mức phạt là 1.000.000 đồng; yêu cầu ông Nguyễn Văn M phải di chuyển cây cối, hoa màu, các loại tài sản trên đất để bàn giao lại đất đúng thời hạn. Thời hạn nộp phạt là 10 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt. Nếu quá thời hạn mà người bị xử phạt không chấp hành quyết định xử phạt thì sẽ bị cưỡng chế thi hành và phải chịu mọi chi phí cho việc tổ chức cưỡng chế.
Ngày 15/12/2011, Tổ công tác thôn đã đến nhà giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng ông M không hợp tác và không ký biên bản.
Ngày 05/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành Quyết định số 578/QĐ -CCK về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp cưỡng chế khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Nguyễn Văn M; lý do cưỡng chế: Không thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Địa điểm thực hiện cưỡng chế: Xứ đồng Cầu V1 và Thì Đ tại xã X, huyện V. Biện pháp cưỡng chế: Giải tỏa mặt bằng trên thực địa để bàn giao đất theo các Quyết định và thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời gian thực hiện cưỡng chế: Từ ngày 20/4/2012.
Ngày 05/4/2012, Tổ công tác thôn đã đến gia đình để giao quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác cho ông M nhưng ông M không hợp tác.
Ngày 23/4/2012, UBND huyện V ban hành Thông báo số 43/TB-UBND về việc tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế bàn giao đất thuộc địa phận xã X để thực hiện dự án Khu Đô thị -.
Ngày 24/4/2012, UBND huyện V tổ chức thực hiện cưỡng chế ngoài thực địa; kết quả cưỡng chế được lập thành biên bản và gửi cho hộ gia đình nhưng hộ gia đình không hợp tác.
Người bị kiện xác định về tính hợp pháp, thẩm quyền, trình tự thủ tục, căn cứ ban hành các quyết định hành chính có liên quan (quyết định thu hồi đất, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai) là phù hợp với quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Căn cứ các quy định của pháp luật về việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai; sau khi rà soát, đối chiếu với các văn bản thuộc hồ sơ cưỡng chế và trình tự các bước thực hiện cưỡng chế nêu trên, Chủ tịch UBND huyện tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 đối với người khởi kiện là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :
- UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên Trình bày: Thống nhất quan điểm, đề nghị của người bị kiện Chủ tịch UBND huyện V và không bổ sung nội dung gì khác.
- UBND xã X, huyện V trình bày: Việc cưỡng chế thu hồi đất của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ gia đình người khởi kiện đã bảo đảm đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
- Công ty Cổ phần T4 trình bày: Toàn bộ dự án của Công ty được nhà nước giao đất là đúng quy định của pháp luật, do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
- Các thành viên hộ gia đình có đất bị thu hồi đều thống nhất với yêu cầu của người khởi kiện, không ai có ý kiến khác.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2024/HC-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
1. Căn cứ:
- Khoản 3, khoản 4, khoản 8, khoản 9 và khoản 10 Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 60, Điều 115, Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206, Điều 348 của Luật tố tụng hành chính;
- Điều 23 Luật đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung năm 2001;
- Điều 39, 40, 44 Luật đất đai năm 2003;
- Điều 20, 55, 56, 66, 67 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008;
- Điều 4, 5, 17, 25 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Điều 4, 6, 7, 8, 9 Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T về việc yêu cầu Tòa án tuyên hành vi tổ chức cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ gia đình bà là trái pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, người khởi kiện bà Đàm Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện là bà Đàm Thị T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo cho rằng hành vi tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ gia đình bà là không có căn cứ, trái pháp luật; yêu cầu Công ty Cổ phần T4 phải ngừng ngay việc thi công và trả lại quyền sử dụng đất cho gia đình bà. Bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà không đúng quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Hành vi tổ chức cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ ông Nguyễn Văn M (bà T) là phù hợp với quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành nên Tòa án sơ thẩm bác các yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T là có căn cứ, đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm, lời trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận và nghị án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Đàm Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi tổ chức cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên đối với hộ gia đình bà là trái pháp luật và buộc Công ty cổ phần T4 phải ngừng ngay việc thi công và trả lại quyền sử dụng đất cho người khởi kiện.
[1.1] Đối với yêu cầu của người khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty cổ phần T4 phải ngừng ngay việc thi công và trả lại quyền sử dụng đất cho người khởi kiện không phải hành vi hành chính thuộc thẩm quyền theo loại việc của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 3 và khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính nên không phải đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, Tòa án sơ thẩm không xem xét, giải quyết đối với yêu cầu này của người khởi kiện là đúng quy định.
[1.2] Đối với yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi tổ chức cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ gia đình bà T là trái pháp luật thì đối tượng khởi kiện của vụ án là hành vi hành chính của người có thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính nên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 3, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 24/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V tổ chức cưỡng chế giải phóng mặt bằng và hỗ trợ thi công đối với một số hộ dân tại xã X, huyện V. Đến ngày 01/4/2013, 165 công dân của xã X là đối tượng bị cưỡng chế đã nộp Đơn khởi kiện vụ án hành chính (đơn khởi kiện tập thể) tại Tòa án nhân dân huyện Văn Giang yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi tổ chức cưỡng chế hành chính ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V là trái pháp luật. Sau đó, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang ra Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Ngày 30/8/2013, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang đã nhận 146 Đơn khởi kiện độc lập của những công dân này, trong đó có Đơn khởi kiện vụ án hành chính của bà Đàm Thị T. Năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang đã chuyển toàn bộ các đơn khởi kiện vụ án hành chính của các công dân xã X, trong đó có đơn khởi kiện của bà T đến Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Tòa án sơ thẩm xác định Đơn khởi kiện của bà T còn trong thời hiệu khởi kiện là có căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[3] Bản án sơ thẩm đã xác định về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, về quyết định hành chính liên quan, về tư cách những người tham gia tố tụng trong vụ án đúng quy định pháp luật. Việc chứng minh, thu thập chứng cứ đã được thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định tại chương VI Luật Tố tụng hành chính.
[4] Đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Đàm Thị T trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[5] Xét kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của người khởi kiện:
[5.1] Về căn cứ, thẩm quyền thu hồi đất, giao đất:
Theo quy định tại Điều 23 Luật đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung năm 2001 (Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001); hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định 66/NĐ - CP ngày 28/9/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 04/NĐ - CP ngày 11/2/2000 của Chính phủ thì Chính phủ có thẩm quyền thu hồi đất, giao đất theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Tại Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu hồi 5.540.712m² đất tại các xã X, P, C, L, T, thị trấn V thuộc huyện V; các xã H, Y, Y thuộc huyện Y và các xã Đ, T, D thuộc huyện K, tỉnh Hưng Yên; giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án xây dựng tuyến đường từ cầu T đi thị xã H, đoạn từ huyện V đến xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên) theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Việc UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 2549/QĐ-UB ngày 21/10/2004 về việc thu hồi 4.990.706m² đất tại các xã X, C, Phụng C3 và thị trấn V; giao toàn bộ diện tích đất cho Công ty cổ phần Đ1 (Nay là Công ty cổ phần T4) để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị T, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng (phần diện tích thu hồi tại xã X 1.219.348m²) là cụ thể hóa Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 của Thủ tướng Chính phủ, trực tiếp giao đất cho tổ chức sử dụng đất là Công ty Cổ phần Đ1. Quan điểm của người khởi kiện cho rằng việc UBND tỉnh H thu hồi đất để thực hiện dự án là trái pháp luật do không chứng minh được căn cứ thu hồi đất là không có cơ sở chấp nhận.
[5.2] Về trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất cho Chủ đầu tư:
Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 04/NĐ - CP ngày 11/2/2000 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 1993, sửa đổi bổ sung năm 1998 thì tại thời điểm Chính phủ ban hành quyết định số 742/QĐ - CP ngày 30/6/2004 về việc thu hồi đất, giao đất cho Chủ đầu tư thực hiện Dự án khu đô thị thương mại tại huyện V theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng thì không phải ban hành các quyết định thu hồi đất cá biệt đến từng thửa đất, từng diện tích đất và từng hộ gia đình. Do đó, việc UBND tỉnh H thu hồi đất để thực hiện dự án mà không ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt là có căn cứ.
[5.3] Mặt khác, trước khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 742/QĐ - CP ngày 30/6/2004 thì ngày 25/3/2004, UBND tỉnh H ban hành Quyết định số 632/QĐ - UB về việc phê duyệt quy hoạch chung xây dựng khu đô thị T, tỉnh Hưng Yên tới năm 2020. Ngày 30/3/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 303/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2001-2005) tỉnh Hưng Yên; theo đó đã phê duyệt bổ sung quỹ đất để tạo vốn xây dựng hạ tầng đô thị huyện V là 500ha.
Ngày 25/06/2004, UBND tỉnh H ban hành Quyết định 1430/QĐ-UB về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị T, tỉnh Hưng Yên và Quyết định 1431/QĐ-UB về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng tuyến đường giao thông liên tỉnh Hưng Yên - Hà Nội; Chủ đầu tư là Công ty cổ phần Đ1. Như vậy, quan điểm của người khởi kiện cho rằng việc thu hồi đất thực hiện Dự án khi chưa có quyết định phê duyệt, chưa có trong quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Hưng Yên là không có cơ sở.
[6] Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, căn cứ ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế và thực hiện hành vi hành chính:
[6.1] Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 742/QĐ - CP ngày 30/6/2004 về vệc thu hồi đất, giao đất cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án và UBND tỉnh H ban hành Quyết định thu hồi đất số 2549/QĐ-UB ngày 21/10/2004 để cụ thể hóa Quyết định số 742/QĐ - CP của Thủ tướng Chính phủ, UBND xã X đã ra thông báo cho hộ ông Nguyễn Văn M (bà Đàm Thị T) di chuyển cây cối, hoa màu và các loại tài sản trên đất để bàn giao trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng gia đình bà không thực hiện việc di dời tài sản, không ký biên bản bàn giao đất. Ngày 12/12/2011, UBND xã X đã lập Biên bản về vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và giao Biên bản vi phạm cho hộ gia đình cùng ngày nhưng hộ gia đình bà T không nhận, không ký biên bản. Ngày 13/12/2011, Chủ tịch UBND huyện V ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Đàm Thị T vì đã có hành vi không thực hiện việc giải tỏa tài sản trên đất, bàn giao đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất và thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 39, Điều 40 Luật Đất đai 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 17 Nghị định số 105/2009/NĐ - CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Tổ công tác thôn đã đến nhà giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng gia đình không hợp tác và không nhận biên bản.
[6.2] Ngày 05/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành Quyết định về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp cưỡng chế khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; lý do cưỡng chế: Không thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Thời gian thực hiện cưỡng chế: Từ ngày 20/4/2012. Ngày 5/4/2012, Tổ công tác thôn đã đến gia đình để giao quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác nhưng gia đình bà T không hợp tác. Ngày 23/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V ban hành Thông báo số 43/TB-UBND về việc tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế bàn giao đất thuộc địa phận xã X để thực hiện dự án Khu Đô thị -. Ngày 24/4/2012, UBND huyện V tổ chức thực hiện cưỡng chế ngoài thực địa; kết quả cưỡng chế được lập thành biên bản và gửi cho hộ gia đình nhưng hộ gia đình bà T không hợp tác.
[7] Như vậy, việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND huyện V đối với người khởi kiện là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 5 Điều 66 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định pháp luật.
Căn cứ các quy định của pháp luật về việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai; sau khi rà soát, đối chiếu với các văn bản thuộc hồ sơ cưỡng chế và trình tự các bước thực hiện cưỡng chế nêu trên, Chủ tịch UBND huyện tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 đối với người khởi kiện là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T và tuyên bà phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là có căn cứ, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[8] Kháng cáo không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Đàm Thị T, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 60/2024/HC-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
2. Về án phí phúc thẩm: Người khởi kiện bà Đàm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm bà T đã nộp tại Biên lai thu số 0000243 ngày 01/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vũ Thị Thu Hà |
Lê Thị Mai |
|
Bùi Anh Thắng |
Bản án số 252/2025/HC-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Số bản án: 252/2025/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đàm Thị T - Chủ tịch UB huyện V
