Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 252/2024/HS-ST

Ngày 25 - 10 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Vũ Ngọc Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Xuyến

Bà Dương Thị Thúy Hằng

- Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Trần Huỳnh Đức Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 266/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị P, sinh năm 1975, tại tỉnh Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết), và bà Hà Thị L (đã chết); Bị cáo là con thứ 03 trong gia đình có 04 anh, chị em; Bị cáo có chồng là ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1959 và có 02 con (con lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1998); Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N. (Bị cáo có mặt)

Bị hại: Bà Chu Thị T, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 06/07/2024, do muốn có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thị P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37K6-5849 đi đến tiệm bán gạo của bà Chu Thị T thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai mục đích tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nơi, P gặp bà Thanh và giả vờ hỏi mua gạo, lợi dụng lúc bà T đi vào trong nhà để lấy gạo không để ý, P đi đến vị trí chiếc tủ lạnh dùng tay trái mở cửa tủ và lấy túi vải màu xám đựng tiền nằm ở ngăn trên tủ lạnh và trộm cắp 1.500.000 đồng. Với thủ phương thức thủ đoạn như trên, ngày 08/7/2024 P tiếp tục trộm cắp số tiền 1.500.000 đồng và ngày 09/7/2024 P trộm cắp số tiền 1.700.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ 50 phút ngày 11/7/2024, khi P đang lấy trộm túi vải bên trong có số tiền 6.870.000 đồng thì bị bà T phát hiện và trình báo công an xã P lập biên bản phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ và xử lý vậy chứng:

  • - Số tiền 6.870.000 đồng, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại theo quy định.
  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát 37K6-5849, qua xác minh chủ sở hữu là anh Đặng Khắc H, do chưa làm việc được với H nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số: 253 /CT-VKS - NT ngày 27/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố Nguyễn Thị P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt Nguyễn Thị P từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
  • - Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch. Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc vắng mặt của bị hại:

Bị hại là đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Về hành vi của bị cáo: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị P có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:

Từ ngày 06/07/2024 đến ngày 11/7/2024, tại ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị P đã thực hiện hành vi trộm cắp 04 lần với tổng số tiền 11.570.000 đồng của chị Chu Thị T thì bị phát hiện bắt quả tang.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tại cơ quan điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét.

[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[8] Đối với 01 xe mô tô biển số 37K6-5849, qua xác minh chủ sở hữu là anh Đặng Khắc H, do chưa làm việc được với H nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 260, 292, 298, 299, 326, 327, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “ Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án, trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2024 đến ngày 17/7/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án/.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai
  • - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục thi hành án DS huyện Nhơn Trạch;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Vũ Ngọc Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 252/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger