|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 252/2024/HS-ST
Ngày 22-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Qúi; Bà Lê Thị Khanh
Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 279/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 199/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Phan Vũ H (tên gọi khác: Không), sinh năm 2002 tại tỉnh Long An; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T và bà Văn Ánh T1; vợ bị cáo tên Nguyễn Ngọc Phương N; bị cáo có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2023 đến nay.
-
Lê Quốc X (tên gọi khác: Không), sinh năm 2001 tại tỉnh Long An; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: ấp B, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc H1 và bà Lâm Thị Đ; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2023 đến nay.
-
Nguyễn Văn T2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 25/9/2005 tại tỉnh Long An; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không, nhân thân: ngày 30/01/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử 04 (bốn) năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2023 đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/11/2023, Đội cảnh sát điều tra về KT-CV Công an huyện H phối hợp với Công an xã T tuần tra đến bãi xe Phương Lan địa chỉ 5 tổ G, ấp M, xã T, huyện H phát hiện bọ cáo Lê Quốc X và Nguyễn Văn T2 đang thực hiện hành vi lấy thùng giấy carton rỗng đã chuẩn bị sẵn từ xe ô tô hiệu Honda CR-V, biển số 51F-189.75 xuống để chất thuốc lá ngoại nhập lậu từ trên xe ô tô hiệu KIA loại SOLUTO, biển số 51K-316.92 do Phan Vũ H điều khiển, rồi dán băng keo lại. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện trên xe ô tô KIA có 07 thùng carton chứa 2500 bao thuốc lá hiệu 555 và 1000 bao thuốc lá hiệu ESSE, đồng thời dưới đất có 03 thùng carton, mỗi thùng chứa 500 bao thuốc lá hiệu 555 nên Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận: Do không có việc làm ổn định nên khoảng tháng 10/2023, H đến khu vực cửa khẩu T7 để tìm việc làm thì gặp người tên T2 (không rõ lai lịch). T2 thỏa thuận thuê H vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu từ cửa khẩu T7 đến giao tại bãi xe Phương L với tiền công là 500.000 đồng/01 chuyến. Khi nào cần chở thuốc lá thì T2 sẽ gọi điện thoại cho H, đồng thời sẽ có người đưa xe ô tô hiệu Kia, sau đó H điều khiển xe đến bãi đất trống khu vực cửa khẩu T7 thì sẽ có người chất thuốc lá lên xe ô tô rồi H điều khiển xe chạy đến bãi xe Phương L để giao cho X và Văn T2 đóng gói thuốc lá lại. Bị cáo H chưa nhận được tiền công.
Lê Quốc X khai nhận khoảng tháng 10/2023, do không có việc làm nên X đến khu vực cửa khẩu T7, tỉnh Long An để tìm việc làm thì gặp người tên T2 (không rõ lai lịch) thuê đến bãi xe Phương L để đóng gói thuốc lá ngoại nhập lậu với tiền công là 300.000 đồng/ 01 ngày. Khi đi sẽ có người chở X đi. Sau đó, T2 kêu X tự tìm và thuê lái xe ô tô người chở X đi đóng gói thuốc lá, trả công cho lái xe ô tô chở Xiêm mỗi chuyến là 300.000 đồng nên X rủ Văn T2 thì Văn T2 đồng ý. Khi đi đóng gói thuốc lá ngoại nhập lậu thì T2 sẽ cho người đem xe ô tô hiệu Honda CR-V, biển số 51F-189.75 giao cho Văn T2 để Văn T2 chở X đi từ Long An đến bãi xe Phương Lan rồi chờ Xiêm đóng gói thuốc lá ngoại nhập lậu xong sẽ chở X về lại Long An. Xiêm chỉ mới nhận được tiền công là 1.000.000 đồng. Còn Văn T2 chưa nhận được tiền công. Lời khai của X phù hợp với lời khai của Văn T2.
Sau khi giao và đóng gói thuốc lá ngoại nhập lậu thì H, X và Văn T2 đi về, số thuốc lá trên vẫn để tại bãi xe P, cả ba không rõ sẽ được đi giao cho ai. Với phương thức, thủ đoạn như trên, cả ba đã thực hiện việc vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu như sau:
Lần 1: Trưa ngày 02/11/2023, H điều khiển xe ô tô, biển số 51K-316.92 chở 04 thùng thuốc lá ngoại nhập lậu hiệu 555 đến bãi xe Phương L gặp X và Văn T2. Sau đó, X lấy thuốc lá từ trên xe ô tô KIA của H xuống rồi cùng với Văn T2 đóng gói số thuốc lá trên bỏ vào thùng giấy, dán băng keo lại rồi Văn T2 điều khiển xe ô tô Honda CR-V chở X về lại Long An.
Lần 2: Khoảng 11 giờ ngày 04/11/2023, X nhận được điện thoại từ T2 qua tài khoản zalo Noonkk kêu đi đóng gói thuốc lá nhập lậu. Sau đó, X và Văn T2 đến bãi đất trống ở thuộc xã M, tỉnh Long An gặp T2 để lấy xe ô tô hiệu Honda CR-V rồi Văn T2 điều khiển xe ô tô chở X đến đường gần khu công nghiệp C lấy 30 thùng giấy và 01 cuộn băng keo màu vàng cam chất lên xe rồi cả hai tiếp tục đi đến bãi xe Phương L. Tại đây, Văn T2 phụ Xiêm dán được 05 thùng carton. Sau đó đợi H điều khiển xe ô tô hiệu KIA chở 10 thùng carton bên trong có 4.000 bao thuốc lá hiệu 555 và 1.000 bao thuốc lá hiệu ESSE từ cửa khẩu T7, tỉnh Long An đến giao. Xiêm khiêng 03 thùng thuốc lá 555 từ trên xe ô tô hiệu KIA xuống đóng gói được 02 thùng thì bị Công an phát hiện.
Theo Công văn thẩm định thuốc lá số 205/CV-2023 HHTLVN ngày 08/11/2023 của H2 thì 4.000 bao thuốc lá hiệu 555 và 1.000 bao thuốc lá hiệu Esse là thuốc lá điếu nhập lậu.
Vật chứng thu giữ:
-
- 4.000 bao thuốc lá hiệu 555;
-
- 1.000 bao thuốc lá hiệu ESSE.
- Thu của bị cáo H:
-
+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có số sim 0338292913, dùng vào việc phạm tội;
-
+ 01 xe ô tô hiệu KIA SOLUTO, biển số 51k-316.92 số khung RNY0A49M5NC289053, số máy G4LCN1054008. Qua xác minh xe có số khung, số máy trên mang biển số 60E-008.56 do Công ty CP T8 đứng tên sở hữu, đã được công ty thế chấp cho quỹ đầu tư phát triển tỉnh Đồng Nai để vay tiền, tuy nhiên công ty T8 chỉ thế chấp giấy đăng ký xe, còn xe ô tô thì công ty T8 cho ông Ừ A T3 thuê với giá 450.000 đồng/01 ngày, sau đó ông T3 cho người tên Q (không rõ lai lịch) thuê lại, việc Q sử dụng xe vào việc gì thì ông T3 không biết. Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Đ đồng ý cho Cơ quan điều tra trả xe cho công ty T8. Riêng biển số xe 51k-316.92, qua xác minh thuộc xe ô tô hiệu Peugeot loại 3008 màu xám do ông Ngao Bạch T4 đứng tên sở hữu, hiện vẫn đang sử dụng xe.
- Thu của bị cáo X:
-
+ 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số sim 0338292913 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số sim 039477204, dùng vào việc phạm tội;
-
+ 30 thùng giấy carton chưa dán băng keo;
-
+ 06 cuộn băng keo loại bản lớn, chưa sử dụng;
-
+ 01 xe ô tô hiệu Honda CR-V, biển số 51F-189.75, số khung RLHRMFY1837FY500800, số máy R20A59040793. Qua xác minh xe do bà Nguyễn Thị T5 đứng tên sở hữu, sau đó bà T5 cho Công ty TNHH D giao Bảo C1, người đại diện là ông Đặng Tuấn V thuê với giá 13.000.000 đồng/01 tháng, sau đó V cho người tên T6 (không rõ lai lịch) thuê lại, do T6 đã thuê xe của V nhiều lần nên hai bên không làm hợp đồng, việc T6 sử dụng xe vào việc gì thì ông V không biết. Cơ quan điều tra đã trả xe cho bà T5.
- Thu của bị cáo Nguyễn Văn T2:
-
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số sim 393775459, dùng vào việc phạm tội;
-
+ 04 thùng giấy carton đã dán băng keo phần đáy thùng.
* Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Cáo trạng số 186/CT-VKS-HM ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Phan Vũ H, Lê Quốc X, Nguyễn Văn T2 về tội: “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).
Đối với đối tượng tên T2 thuê các bị cáo vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ đề nghị khởi tố sau.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố phát biểu quan điểm: Qua thẩm vấn công khai và tranh luận tại phiên tòa, các bị cáo Phan Vũ H, Lê Quốc X, Nguyễn Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh mặt hàng thuốc lá điếu ngoại. Do đó cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe đối với các bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) tuyên các bị cáo Phan Vũ H, Lê Quốc X, Nguyễn Văn T2 phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
* Về nhân thân:
Bị cáo Phan Vũ H, bị cáo Lê Quốc X có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo Nguyễn Văn T2 không có tiền án, tiền sự, nhận thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử 04 (bốn) năm tù, về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo Bản án số 07/2023/HS-ST ngày 30/01/2024.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo từ khi bị bắt thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
* Về hình phạt đề nghị: Căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phan Vũ H, Lê Quốc X, Nguyễn Văn T2 từ 05 (năm) năm – 06 (sáu) năm tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt của Bản án trước, đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Văn T2 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2023.
Buộc bị cáo Lê Quốc X nộp 1.000.000 (một triệu) đồng tiền thu lợi bất chính.
Đối với đối tượng tên T2 thuê các bị cáo vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ đề nghị khởi tố sau.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
* Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không có.
* Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
2. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến trình bày thêm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi và rất hối hận về hành vi phạm pháp của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình làm lại cuộc đời, phụ giúp gia đình, trở thành người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa các bị cáo Phan Vũ H, Lê Quốc X, Nguyễn Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với vật chứng và các tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án, đủ cơ sở xác định: Trưa ngày 04/11/2023, tại bãi xe P địa chỉ 5 tổ G, ấp M, xã T, huyện H, bị cáo Phan Vũ H, Lê Quốc X và Nguyễn Văn T2 có hành vi vận chuyển 5.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm bị bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về trật tự quản lý kinh tế, chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh mặt hàng thuốc lá điếu ngoại. Các bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi, hậu quả của bị cáo gây ra nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, riêng bị cáo Lê Quốc X có người thân là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với đối tượng tên T2 thuê các bị cáo vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu do không rõ lai lịch Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ phạm tội sẽ xử lý sau.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
[5] Về xử lý vật chứng:
-
- 4.000 bao thuốc lá hiệu 555, 1.000 bao thuốc lá hiệu ESSE nhập lậu là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp;
-
- 30 thùng giấy carton chưa dán băng keo, 06 cuộn băng keo loại bản lớn, chưa sử dụng, 04 thùng giấy carton đã dán băng keo phần đáy thùng, biển số xe 51k-316.92 giả là công cụ dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp;
-
- 01 điện thoại di động hiệu N1 màu đen số sim 0338292913 bị cáo H; 01 điện thoại di động N1 màu đen số sim 033829291301, điện thoại di động hiệu Iphone số sim 039477204 bị cáo X; 01 điện thoại di động hiệu Iphone số sim 393775459 Tuấn các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp;
-
- 01 xe ô tô hiệu Kia Soluto, biển số 51k-316.92 có số khung: RNY0A49M5NC289053, số máy G4LCN1054008. Qua xác minh xe có số khung, số máy nêu trên mang biển số 60E-00856 tài 2808 do Công ty cổ phần T8 đứng tên sở hữu, công ty T8 cho ông Ừ A T3 thuê với giá 450.000 đồng/01 ngày, sau đó ông T3 cho người tên Q (không rõ lai lịch) thuê lại, Q sử dụng xe vào việc gì thì ông T3 không biết nên Hội đồng xét xử quyết định trả xe cho chủ sở hữu là công ty T8 là phù hợp;
-
- 01 xe ô tô hiệu Honda CR-V, biển số 51F-189.75, số khung RLHRMFY1837FY500800, số máy R20A59040793 Cơ quan điều tra đã trả xe cho bà T5 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
- Buộc bị cáo Lê Quốc X nộp 1.000.000 (một triệu) đồng tiền thu lợi bất chính.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không có.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo cũng như xử lý vật chứng của vụ án và dân sự; xem xét đề nghị của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Phan Vũ H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 04/11/2023.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Lê Quốc X 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 04/11/2023.
Buộc bị cáo X nộp 1.000.000 (một triệu) đồng tiền thu lợi bất chính.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Tổng hợp hình phạt Bản án số 07/2023/HS-ST ngày 30/01/2024 của huyện Đ tỉnh Long An, buộc bị cáo Nguyễn Văn T2 phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 04/11/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017)
Tịch thu tiêu hủy:
-
- 4.000 bao thuốc lá hiệu 555, 1.000 bao thuốc lá hiệu ESSE nhập lậu;
-
- 30 thùng giấy carton chưa dán băng keo, 06 cuộn băng keo loại bản lớn, chưa sử dụng, 04 thùng giấy carton đã dán băng keo phần đáy thùng, biển số xe 51k-316.92 giả;
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
-
- 01 điện thoại di động hiệu N1 màu đen số sim 0338292913, 01 điện thoại di động N1 màu đen số sim 0338292913, 01 điện thoại di động hiệu Iphone số sim 039477204, 01 điện thoại di động hiệu Iphone số sim 393775459;
- Trả cho Công ty cổ phần T8 01 xe ô tô hiệu KIA SOLUTO, biển số 51k-316.92 số khung RNY0A49M5NC289053, số máy G4LCN1054008.
(Các vật chứng trên được ghi theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 252/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (vận chuyển hàng cấm)
- Số bản án: 252/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vận chuyển hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển hàng cấm
