|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 252/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31/5/2024 V/v: Xin ly hôn. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Đình Quang;
Ông Nguyễn Tiến Chuyển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Tuấn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 200/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/5/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 97/2024/QĐ-ST ngày 29/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Gia L, sinh năm 1983.
HKTT và nơi ở: Số A, Tổ dân phố số E, phường P, quận N, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh L: Bà Đỗ Thị Nhật L1, sinh năm 1995. Thẻ Luật sư số 17701/LS ngày 10/8/2022 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B – Công ty L4 – Đoàn Luật sư T.
Bị đơn: Chị Đào Thị H, sinh năm 1984.
HKTT: Số 137, Tổ dân phố số 5, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Nơi ở: Tổ dân phố số 1, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Bà L1, chị H có mặt. Anh L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai và tại các buổi hòa giải, nguyên đơn – anh Nguyễn Gia L trình bày: Tôi và chị H kết hôn ngày 06/11/2003 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã M, huyện T (nay là phường M, quận N), thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cãi vã, xúc phạm nhau. Hiện tôi và chị H đã ly thân từ năm 2014, không ai còn quan tâm đến ai. Nay tôi xác định không còn tình cảm với chị H. Đề nghị Toà án cho tôi được ly hôn với chị H.
Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Hương L2, sinh ngày 30/11/2001, cháu Nguyễn Triệu V, sinh ngày 09/4/2004 và cháu Nguyễn Gia L3, sinh ngày 20/3/2008. Cháu L2 và cháu V đã trưởng thành, ở với ai là quyền của các cháu. Ly hôn, tôi có nguyện vọng để chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L3. Về cấp dưỡng nuôi con, tôi sẽ cấp dưỡng nuôi cháu L3, mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu L3 đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Chúng tôi tự thoả thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai và tại các buổi hòa giải, bị đơn – chị Đào Thị H trình bày:
Tôi và anh L kết hôn ngày 06/11/2003 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã M, huyện T (nay là phường M, quận N), thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, tôi công nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện chúng tôi đã ly thân, nhưng vẫn còn quan tâm đến nhau. Tôi xác định còn tình cảm với anh L và mong muốn anh L quay về. Nay anh L có đơn xin ly hôn, tôi không đồng ý ly hôn với anh L.
Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Hương L2, sinh ngày 30/11/2001, cháu Nguyễn Triệu V, sinh ngày 09/4/2004 và cháu Nguyễn Gia L3, sinh ngày 20/3/2008. Cháu L2 và cháu V đã trưởng thành, ở với ai là quyền của các cháu. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L3. Về cấp dưỡng nuôi con, tôi đề nghị anh L cấp dưỡng nuôi cháu L3, mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu L3 đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Chúng tôi tự thoả thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn – anh L có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho ly hôn chị H. Anh có nguyện vọng để chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L3. Về cấp dưỡng nuôi con, anh sẽ cấp dưỡng nuôi cháu L3, mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu L3 đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, vay nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn – chị H giữ nguyên ý kiến: chị không đồng ý ly hôn với anh L. Về con chung: cháu L2 và cháu V đã trưởng thành. Nếu phải ly hôn, chị có nguyện vọng xin được nuôi cháu L3 và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi cháu L3 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu L3 đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, vay nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh L đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến: Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX tại phiên tòa sơ thẩm cũng như việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Gia L. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Hương L2, sinh ngày 30/11/2001, cháu Nguyễn Triệu V, sinh ngày 09/4/2004 và cháu Nguyễn Gia L3, sinh ngày 20/3/2008. Cháu L2 và cháu V đã trưởng thành. Giao cháu L3 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh L cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu L3 đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về thủ tục tố tụng:
Đơn yêu cầu và các tài liệu chứng cứ kèm theo của anh Nguyễn Gia L đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý giải quyết yêu cầu xin ly hôn của anh L với chị Đào Thị H có địa chỉ: Số A, Tổ dân phố số E, phường P, quận N, thành phố Hà Nội là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[II] Xét yêu cầu “Xin ly hôn” của anh L với chị H, Hội đồng xét xử thấy: Anh Nguyễn Gia L và chị Đào Thị H kết hôn ngày 06/11/2003 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã M, huyện T (nay là phường M, quận N), thành phố Hà Nội. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo anh L trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cãi vã, xúc phạm nhau. Hiện anh và chị H đã ly thân từ năm 2014, không ai còn quan tâm đến ai. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị H. Đề nghị Toà án cho anh được ly hôn với chị H.
Chị H trình bày: Quá trình chung sống, chị công nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện anh chị đã ly thân, nhưng vẫn còn quan tâm đến nhau. Chị xác định còn tình cảm với anh L và mong muốn anh L quay về. Nay anh L có đơn xin ly hôn, chị không đồng ý ly hôn với anh L.
Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế, cuộc sống hôn nhân của anh L, chị H không còn tồn tại, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Anh chị đều thừa nhận hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Bản thân chị H cũng đã cố gắng tìm các biện pháp để cải thiện quan hệ vợ chồng tuy nhiên vẫn không có kết quả. Như vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, anh L vẫn kiên quyết xin ly hôn với chị H. Vì vậy Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh L, cho anh L ly hôn chị H.
- Con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Hương L2, sinh ngày 30/11/2001, cháu Nguyễn Triệu V, sinh ngày 09/4/2004 và cháu Nguyễn Gia L3, sinh ngày 20/3/2008. Cháu L2 và cháu V đã trưởng thành, ở với ai là quyền của các cháu nên Tòa không xem xét. Anh L và chị H cùng thống nhất để chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L3.Về cấp dưỡng nuôi con, anh L và chị H cùng thống nhất anh L cấp dưỡng nuôi cháu L3, mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu L3 đủ 18 tuổi. Như vậy cần công nhận sự thỏa thuận về con chung giữa anh L và chị H.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[III] Về án phí: Anh L phải chịu án phí ly hôn và cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4, Điều 147; Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Gia L đối với chị Đào Thị H. Cho anh L ly hôn với chị H.
- Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Hương L2, sinh ngày 30/11/2001, cháu Nguyễn Triệu V, sinh ngày 09/4/2004 và cháu Nguyễn Gia L3, sinh ngày 20/3/2008. Cháu L2 và cháu V đã trưởng thành. Giao cháu L3 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: anh L cấp dưỡng nuôi cháu L3, mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/tháng kẻ từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu L3 đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi, thỏa thuận khác.
Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản.
- Tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Gia L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh L đã nộp là 300.000đ theo biên lai số BLTU/23 0009606 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm. Anh L còn phải nộp tiếp 300.000 đồng.
Bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thuý Anh |
Bản án số 252/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xin ly hôn
- Số bản án: 252/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Gia L đối với chị Đào Thị H. Cho anh L ly hôn với chị H
