Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2024/HC-PT

Ngày: 24/4/2024

V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng;

Các Thẩm phán: Ông Phạm Việt Hà;

Bà Trần Thị Quỳnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thùy Trang, Thư ký viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 48/2024/TLPT-HC ngày 17 tháng 01 năm 2024 do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 116/2022/HC-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4310/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Ông Đinh Mạnh Q, sinh năm 1943; Địa chỉ: Đ, B, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Nguyễn Hà A và luật sư Nguyễn Thị H - Công ty L Đoàn luật sư thành phố H (Luật sư A có mặt, luật sư H vắng mặt).

* Người bị kiện:

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ - Phó Chủ tịch; Vắng mặt.

  3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
  4. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị N - Phó Chủ tịch; Vắng mặt.

  5. Ủy ban nhân dân xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1951; Vắng mặt.
  2. Chị Đinh Thị H1, sinh năm 1978; Vắng mặt.
  3. Anh Đinh Quốc H2, sinh năm 1980; Có mặt.
  4. Anh Đinh Việt H3, sinh năm 1984; Có mặt.
  5. Chị Đinh Thị Hồng H4, sinh năm 1986; Vắng mặt.
  6. Anh Đinh Quang H5, sinh năm 1989; Vắng mặt.

Cùng nơi ở: Đội 6, Bài Lâm H6, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, người khởi kiện ông Đinh Mạnh Q trình bày:

Gia đình ông Đinh Mạnh Q được cấp 2973 m² đất ruộng ở 14 xứ đồng cho 08 nhân khẩu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do ông Đinh Mạnh Q đứng tên chủ hộ) được Ủy ban nhân dân huyện Ứ cấp ngày 15/9/1999. Đến năm 2012 - 2013, Hợp tác xã nông nghiệp thôn B, xã H tiến hành dồn điền đổi thửa theo kế hoạch xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước. Nhưng trong quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn B, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội đã có những bước thực hiện không đúng quy định pháp luật, dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông.

Ngày 15/12/2013, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn B tổ chức Hội nghị xã viên để thống nhất các nội dung dồn điền đổi thửa trong thôn, gia đình ông Đinh Mạnh Q do ông đại diện tham gia Hội nghị xã viên ngày hôm đó. Tại Hội nghị, ông Q cùng những xã viên tham dự cuộc họp được thông báo về phương án dồn điền đổi thửa theo tỷ lệ 1:0,7 đối với diện tích đất nông nghiệp xen kẹt trong thổ cư đã được xã viên sử dụng lập vườn. Do đó, ngay trong Hội nghị, các xã viên đã có rất nhiều ý kiến phản đối, không có sự nhất trí thông qua bất kể nội dung nào như trong Nghị quyết Hội nghị ngày 15/12/2013 đã ghi nhận. Các ý kiến của các xã viên tham gia Hội nghị đã không được Ban tổ chức ghi nhận, trong Hội nghị đã có nhiều sự tranh cãi, chất vấn và khi ông thư ký Hội nghị Nguyễn Xuân H7 đọc Biên bản thì tất cả mọi người đều phản đối và tự ý bỏ về trước khi Hội nghị kết thúc. Sự việc bất bình, mâu thuẫn, phản đối trong Hội nghị ngày hôm đó đều đã được các xã viên chứng kiến một cách công khai, nhưng ông Nguyễn Duy T1 là chủ tọa, ông Nguyễn Xuân H7 là thư ký cùng các cá nhân đại diện chính quyền địa phương có mặt trong Hội nghị vẫn cho ra Nghị quyết Hội nghị ngày 15/12/2013 như trong hồ sơ Ủy ban nhân dân huyện Ứ, và hồ sơ Ủy ban nhân dân xã H đã cung cấp đến Tòa án.

Do có sự ghi nhận không đúng sự thật khách quan, và sự tạo dựng các nội dung trái pháp luật trong Nghị quyết Hội nghị ngày 15/12/2013 của Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6, dẫn đến hậu quả làm thiệt hại nghiêm trọng đến

quyền lợi hợp pháp của ông Q và gia đình. Trong Hội nghị xã viên ngày 15/12/2013, ông Q đại diện gia đình tôi tham gia, đã bày tỏ quan điểm rõ ràng rằng không chấp nhận tỷ lệ 1:0,7 đối với diện tích đất nông nghiệp xen trong thổ cư đã được xã viên sử dụng lập vườn; không chấp nhận việc Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 xác định diện tích đất của gia đình tôi là đất nông nghiệp xen kẹt trong thổ cư đã được xã viên sử dụng lập vườn.

Sau đó, ông Q đã đại diện gia đình làm đơn khiếu nại đến các cấp quyền tại địa phương, thì gia đình tôi biết đến bản Đề án (gồm 3 trang giấy A4) đề ngày 24/10/2013, có Chủ tịch xã H là ông Nguyễn Văn T2 ký chỗ đóng dấu treo tại góc trên bên trái trang đầu, có đề ra nội dung diện tích đất nông nghiệp xen trong thổ cư đã được xã viên sử dụng lập vườn thì được trừ vào diện tích ruộng cấy ngoài đồng theo hệ đất loại 1 = 0,78. Và khi các cấp chính quyền địa phương (UBND xã H và UBND huyện Ứ) có văn bản giải quyết khiếu nại của ông, thì gia đình mới được biết là Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm Hạ dồn điền đổi thửa cho gia đình ông theo tỷ lệ 1 = 0,7 như trong nội dung của Đề án (gồm 7 trang giấy A4) đề ngày 24/10/2013 không có chữ ký chỗ đóng dấu treo tại góc trên bên trái trang đầu. Sự nhập nhèm, gian dối trong việc thông tin đến các xã viên của Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn B như trên đã gây ra những sự lầm, là tiền đề của những sai sót trong quá trình dồn điền đổi thửa tại thôn B, làm thiệt hại lớn quyền lợi hợp pháp của những người dân thiếu hiểu biết như tôi.

Theo quy định với cách làm dân chủ, ông Q là người đại diện cho gia đình tôi, được quyền có ý kiến, được ghi nhận ý kiến trong Hội nghị xã viên ngày 15/12/2013. Từ đó, gia đình chúng tôi có thể được hưởng đủ 8 xuất theo tỷ lệ 1:1. Bên cạnh đó, phần diện tích đất 5% của gia đình ông Q đã được thu hồi để thực hiện dồn điền đổi thửa, nhưng đến nay cũng chưa được các cấp lại theo Phương án số 01/PA-UB và Tờ trình số 36/TTr-UBND.

Ngày 06/10/2020, ông Q nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên hủy Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 của UBND xã H trả lời đơn kiến nghị của công dân thôn B, xã H; Quyết định số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch UBND xã H về giải quyết khiếu nại (lần đầu) và Quyết định giải quyết khiếu nại số 4342/QĐ-UBND ngày 04/9/2020 của Chủ tịch UBND huyện Ứ.

* Người bị kiện Chủ tịch và Ủy ban nhân dân xã H trình bày:

Năm 2013 thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa theo chỉ đạo của UBND huyện Ứ, Đảng ủy và UBND xã H đã thành lập Ban chỉ đạo dồn điền đổi thửa của xã và chỉ đạo các thôn thành lập các Tiểu ban dồn điền đổi thửa của thôn; chỉ đạo các Tiểu ban dồn điền đổi thửa các thôn xây dựng Đề án dồn điền đổi thửa và tổ chức họp xã viên để lấy ý kiến thông qua đề án.

Sau khi xây dựng đề án, các thôn tổ chức họp đại diện hộ xã viên thông qua

đề án đồng thời lập tờ trình trình Ban chỉ đạo xã; UBND xã lập Tờ trình số 36/TTr-UBND ngày 29/10/2013 và Phương án số 01/PA-UBND ngày 29/10/2013 về việc dồn điền đổi thửa của 2 thôn, thôn P và thôn B; trình HĐND xã được Hội đồng nhân dân xã biểu quyết và ban hành Nghị quyết số 04/2013/NQ-HĐND ngày 30/10/2013 về việc phê duyệt Phương án số 01/PA-UBND ngày 29/10/2013 và Tờ trình số 36/TTr-UBND ngày 29/10/2013 của UBND xã về việc dồn trung điền đổi thửa của 2 thôn, thôn P và thôn B.

Ngày 08/11/2013 UBND huyện Ứ, ban hành Quyết định số 654/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án dồn điền đổi thửa thôn P, B, xã H.

Sau khi có Quyết định phê duyệt trên Ban chỉ đạo xây dựng NTM xã H đã chỉ đạo Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 thực hiện việc dồn điền đổi thửa lần 2 đúng theo đề án đã xây dựng và được Hội nghị đại biểu xã viên nhất trí thông qua, cụ thể:

“Hội nghị nhất trí với tỷ lệ đổi với diện tích đất xen kẹt và các hộ tự ý chuyển đối là 1 sào được 0,7 sào nếu các hộ xin nhận diện tích đất trên, nếu hộ nào không chấp hành thì yêu cầu phải giải phóng mặt bằng trước khi chia ruộng để bàn giao trả tập thể. Để tập thể phân chia cho các hộ xã viên, nếu hộ nào cố tình không chấp hành phải chịu trách nhiệm với tập thể và pháp luật hiện hành, để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước”.

Đối với hộ ông Đinh Mạnh Q trước thời điểm dồn điền đổi thửa lần hai, hộ ông Q đã chuyển đổi ruộng cho các hộ trong thôn để lấy về xứ đồng Quan Viên, G cây đa; hộ ông Q là một trong số các hộ đã tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Tại thời điểm giao đất cho hộ ông Q năm 2013 tại xứ đồng Q, Gốc cây đa (cũ); ông Đinh Mạnh Q nhất trí, không có ý kiến gì về việc ông được hưởng tỷ lệ trên.

Như vậy việc Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 giao ruộng cho hộ ông Đinh Mạnh Q tại xứ đồng Q, Gốc cây đa (cũ) là thực hiện đúng theo Đề án đã được Hội nghị đại biểu xã viên nhất trí thông qua ngày 15/12/2013.

Việc ông Đinh Mạnh Q cho rằng Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 giao ruộng cho gia đình ông không đúng với Đề án dồn điền đổi thửa năm 2013 của thôn B là không đúng vì:

Việc UBND xã H giải quyết đơn kiến nghị của ông Đinh Mạnh Q; ban hành Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 về trả lời đơn kiến nghị của ông Đinh Mạnh Q, thôn B là đúng theo Nghị quyết và Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013 đã được phê duyệt; được Hội nghị đại biểu xã viên nhất trí thông qua.

Không đồng ý với nội dụng thông báo giải quyết đơn kiến nghị nêu trên, ông Đinh Mạnh Q đã khiếu nại và được Chủ tịch UBND xã H thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu. Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 86/QD-UBND ngày

01/6/2020 của Chủ tịch UBND xã H đã quyết định giữ nguyên nội dung Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 về trả lời đơn kiến nghị của ông Đinh Mạnh Q.

Chủ tịch UBND xã H khẳng định việc giải quyết khiếu nại nêu trên là đúng quy định của pháp luật.

* Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứ trình bày:

Năm 2013, thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa theo chỉ đạo của UBND huyện Ứ, Đảng ủy và UBND xã H đã thành lập Ban chỉ đạo dồn điền đổi thửa của xã và chỉ đạo các thôn thành lập các Tiểu ban dồn điền đổi thửa của thôn; đồng thời các thôn xây dựng Đề án dồn điền đổi thửa và tổ chức Hội nghị đại biểu xã viên thông qua đề án lấy ý kiến của xã viên.

Sau khi xây dựng đề án, các thôn tổ chức họp đại diện hộ xã viên thông qua Đề án đồng thời lập tờ trình trình Ban chỉ đạo xã; UBND xã lập Tờ trình số 36/TTr-UBND, Phương án số 01/PA-UBND ngày 29/10/2013 về việc dồn điền đổi thửa của 2 thôn, thôn P và thôn B HĐND xã và đã được HĐND xã H biểu quyết và ban hành Nghị quyết số 04/2013/NQ-HĐND ngày 30/10/2013 phê duyệt Phương án số 01/PA-UBND ngày 29/10/2013 của UBND xã về việc dồn điền đổi thửa của 2 thôn, thôn P và thôn B.

Ngày 08/11/2013, UBND huyện Ứ ban hành Quyết định số 654/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án dồn điền đổi thửa thôn P, B, xã H.

Sau khi có Quyết định phê duyệt trên, Ban chỉ đạo dồn điền đổi thửa xã H đã chỉ đạo Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 thực hiện việc dồn điền đổi thửa lần 2 đúng theo đề án đã xây dựng và được Hội nghị đại biểu xã viên nhất trí thông qua. Ngày 15/12/2013, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn B tổ chức Hội nghị đại diện hộ xã viên đã biểu quyết thông qua Đề án dồn điền đổi thửa thôn B trong đó có nội dung.

“Hội nghị nhất trí với tỷ lệ đổi với diện tích đất xen kẹt và các hộ tự ý chuyển đối là 1 sào được 0,7 sào nếu các hộ xin nhận diện tích đất trên, nêu hộ nào không chấp hành thì yêu cầu phải giải phóng mặt bằng trước khi chia ruộng để bàn giao trả tập thể. Để tập thể phân chia cho các hộ xã viên, nếu hộ nào cố tình không chấp hành phải chịu trách nhiệm với tập thể và pháp luật hiện hành, để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước”.

Đối với hộ ông Đinh Mạnh Q trước thời điểm dồn điền đổi thửa lần hai, hộ ông Q đã chuyển đổi ruộng cho các hộ trong thôn để lấy ruộng về xứ đồng Quan Viên, Gốc cây đa. Hộ ông Q là một trong số các hộ đã tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Tại thời điểm giao đất cho hộ gia đình ông Q vào năm 2013 tại xứ đồng Quan Viên Gốc cây đa; hộ ông Đinh Mạnh Q không có ý kiến gì về việc ông

được hưởng tỷ lệ trên. Như vậy Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 giao ruộng cho hộ ông Đinh Mạnh Q tại xứ đồng Quan Viên, Gốc cây đa là thực hiện đúng theo đề án đã được Hội nghị đại biểu xã viên nhất trí thông qua ngày 15/12/2013.

Sau khi giao ruộng cho hộ ông Đinh Mạnh Q, tháng 12/2014 công dân thôn B có đơn tố cáo đối với ông Nguyễn Quang K - Bí thư Đảng ủy xã; ông Nguyễn Văn T2 - Chủ tịch UBND xã H; ông Nguyễn Duy T1 - Bí thư chi bộ thôn B, xã H. Trong đó có nội dung: “Việc giao ruộng canh tác cho ông Đinh Mạnh Q 1 sào được 0,7 sào còn hộ ông Nguyễn Quý S1 sào được 1 sào".

Tố cáo trên của công dân đã được Chủ tịch UBND huyện Ứ ban hành Kết luận số 108/KL-UBND, ngày 13/7/2015 kết luận nội dung tố cáo đối với ông K - Bí thư Đảng ủy xã; ông T2 - Chủ tịch UBND xã H; ông T1 - Bí thư Chi bộ thôn B, xã H; Tại điểm c, phần 2 Kết luận nội dung thứ nhất ghi "Giao ruộng canh tác cho hộ ông Đinh Mạnh Q 1 sào hưởng 0,7 sào, hộ ông Nguyễn Quý S1 sào hưởng đủ 1 sào là đúng với Nghị quyết họp xã viên đại diện hộ HTXNN Bài Lâm H6"

Không đồng ý với Kết luận số 108/KL-UBND ngày 13/7/2015 của Chủ tịch UBND huyện Ứ, công dân có đơn tiếp tố gửi Chủ tịch UBND thành phố H. Ngày 04/7/2016, Chủ tịch UBND thành phố H ban hành Kết luận số 11/KL-UBND về nội dung tố cáo đối với một số cán bộ thôn B, xã H, huyện Ứ. Tại phần 1.4. Nội dung 4: Ghi “Hộ ông Đinh Mạnh Q và hộ ông Nguyễn Quý S là hai hộ được giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, hộ ông Đinh Mạnh Q tự chuyển đổi với một số hộ lấy đất màu và nằm trong danh sách 53 hộ có tồn tại về đất của thôn B (các hộ vi phạm về đất đai như: lấn chiếm, tự ý chuyển đổi quyền sử dụng đất, sử dụng sai mục đích). Hộ ông Nguyễn Quý S trong quá trình sử dụng không tự ý chuyển đổi và không nằm trong danh sách các hộ có tồn tại về đất. Việc hộ ông Đinh Mạnh Q được chia 1 sào hưởng 0,7 sào còn hộ ông Nguyên Quý S1 được chia I sào hưởng đủ 1 sào là phù hợp với Nghị quyết được thông qua tại Hội nghị xã viên thôn B".

Việc ông Đinh Mạnh Q cho rằng: Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 giao ruộng cho gia đình ông 1 sào được 0,7 sào là không đúng với Đề án dồn điền đổi thửa năm 2013 của thôn B vì: Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013 ghi: “Tổng diện tích đất nông nghiệp còn lại chia cho xã viên 822.429m² chia cho 2029,5 xuất = 405m²/xuất” và mục 2 ghi “Đối với diện tích đất nông nghiệp xen trong thổ cư đã được xã viên sử dụng lập vườn thì đều được trừ vào diện tích ruộng cấy ngoài đồng hệ số loại đất 1 - 0,78” là không đúng vì nội dung trên nằm trong đề án dự thảo của Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn B. Đồ án trên đã được Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn B chỉnh sửa và được Hội nghị đại diện hộ thôn B thông qua ngày 15/12/2013.

Năm 2013, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 đã giao đủ diện tích đất nông nghiệp cho hộ ông Đinh Mạnh Q tại xứ đồng Q, Gốc cây đa; nhưng do hộ

ông Đinh Mạnh Q là hộ tự ý chuyển đổi đất nông nghiệp nên chỉ được chia theo tỷ lệ 1 sào được 0,7 sào; tổng diện tích đất được giao theo Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013 là: 08 xuất x 376m²/xuất - 3008m² x 0,7 = 2105,6m² + 108m² (đất 5%) = 2213,6m². Diện tích thực tế ông Q đang sử dụng 2318,4m², tăng 104,8m² so với diện tích được giao. Việc giao đất nông nghiệp cho hộ ông Q như đã nêu là đúng với Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013; đúng tinh thần Nghị quyết Hội nghị đại biểu xã viên HTXNN Bài Lâm Hạ ngày 15/12/2013 họp bàn, thống nhất; liên quan đến việc giao đất trên đã có tố cáo của công dân; tố cáo trên đã được Chủ tịch UBND huyện Ứ và Chủ tịch UBND thành phố H kết luận với nội dung:

Kết luận của Chủ tịch UBND huyện: Tại điểm c, phần 2 kết luận nội dung thứ nhất ghi “Giao ruộng canh tác cho hộ ông Đinh Mạnh Q 1 sào hưởng 0,7 sào, hộ ông Nguyễn Quý S 1 sào hưởng đủ 1 sào là đúng với nghị quyết họp xã viên đại diện hộ HTX NI".

Kết luận của Chủ tịch UBND thành phố H: Tại phần 1.4. Nội dung 4 ghi “Hộ ông Đinh Mạnh Q và hộ ông Nguyễn Quý S là hai hộ được giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, hộ ông Đinh Mạnh Q tự chuyển đổi với một số hộ lấy đất màu và nằm trong danh sách 53 hộ có tồn tại về đất của thôn B (các hộ vi phạm về đất đai như: lấn chiếm, tự ý chuyển đổi quyền sử dụng đất sử dụng sai mục đích) hộ ông Nguyễn Quý S trong quá trình sử dụng không tự ý chuyển đổi và không nằm trong danh sách các hộ có tồn tại về đất. Việc hộ ông Đinh Mạnh Q được chia 1 sào hưởng 0,7 sào còn hộ ông Nguyễn Quý S được chia 1 sào hưởng đủ 1 là phù hợp với Nghị quyết được thông qua tại Hội nghị xã viên thôn B".

Như vậy, UBND xã H ban hành Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 trả lời kiến nghị của ông Đinh Mạnh Q, cụ thể: “Việc hộ ông Đinh Mạnh Q được nhận ruộng tại xứ đồng Quan Viên, Gốc cây đa, thôn B là đúng theo Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013, do Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn B lập ngày 24/10/2013 và Nghị quyết Hội nghị đại biểu xã viên đại diện hộ ngày 15/12/2013” là đúng với đồ án và Nghị quyết Hội nghị đại biểu xã viên đại diện hộ ngày 15/12/2013;

Ngày 04/9/2020, UBND huyện Ứ tổ chức đối thoại với ông Đinh Mạnh Q. Tại buổi đối thoại, ông Q không đồng ý với kết quả xác minh nội dung khiếu nại của thanh tra huyện, vì cho rằng: Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013 và Nghị quyết Hội nghị đại biểu xã viên đại diện các hộ ngày 15/12/2013 chưa đúng với Hướng dẫn số 61/HD-KT ngày 17/8/2012 của Phòng Kinh tế huyện Ứ. Ý kiến trên của ông Q là không đúng với thực tế, nên không có cơ sở xem xét.

Như vậy: Khiếu nại của ông Đinh Mạnh Q đối với Quyết định số 86/QĐ-

UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch UBND xã H về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Q đối với Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 của UBND xã H về giải quyết đơn kiến nghị của ông Đinh Mạnh Q, thôn B, xã H là không có căn cứ.

Từ những căn cứ trên, ngày 04/9/2020 Chủ tịch UBND huyện Ứ ban hành Quyết định số 4243/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông Đinh Mạnh Q với nội dung;

“Điều 1. Giữ nguyên Quyết định số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch UBND xã H về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Q đối với Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/202 của UBND xã H về giải quyết đơn kiến nghị của ông Đinh Mạnh Q, thôn B, xã H, huyện Ứ...”.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Mạnh Q, Chủ tịch UBND huyện Ứ khẳng định: Năm 2013 Tiểu ban dồn điều đổi thửa thôn Bài Lâm H6 đã giao đủ diện tích đất nông nghiệp cho hộ ông Đinh Mạnh Q đúng với Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013; đúng tinh thần Nghị quyết Hội nghị Đại biểu xã viên Hợp tác xã Nông nghiệp thôn B ngày 15/12/2013 họp bàn, thống nhất. Việc Chủ tịch U đơn của ông Đinh Mạnh Q và ban hành Quyết định số 4243/QĐ-UBND ngày 09/4/2020 là đúng quy định.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các thành viên hộ gia đình với ông Đinh Mạnh Q nhất trí với nội dung khởi kiện của ông Q.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 116/2022/HC-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 30; Điều 32; Điều 116; khoản 1 Điều 158; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 194; Điều 204; Điều 206; khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; khoản 1 Điều 18, khoản 2 Điều 21, Điều 27, Điều 29, Điều 31, Điều 33, Điều 36, Điều 38, Điều 40 Luật Khiếu nại; Luật Đất đai;

Luật Phí và lệ phí; Luật Người cao tuổi và Nghị quyết số 1326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Mạnh Q.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/8/2022, ông Đinh Mạnh Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và ngày 17/8/2022, anh Đinh Quốc H2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, không chấp nhận bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, tuyên hủy bản án sơ thẩm. Người kháng cáo không có tài liệu chứng cứ nào mới cung cấp cho HĐXX xem xét.
  • Người bị kiện có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H2 giữ nguyên nội dung kháng cáo và nhất trí quan điểm của người khởi kiện, không có tài liệu gì khác cung cấp cho HĐXX.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa nhất trí nội dung kháng cáo.
  • Người bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện đề nghị HĐXX:
  • Đề nghị xem xét sai phạm tố tụng của cấp sơ thẩm như: Bản án xét xử xong nhưng một thời gian dài sau đương sự mới nhận được bản án. Đơn kháng cáo nộp đúng hạn, cho nộp tạm ứng án phí muộn, sau khi đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nhưng không chuyển hồ sơ vụ án lên cấp phúc thẩm; thu tiền chi phí thẩm định 7 triệu đồng nhưng chi phí hết 5 triệu đồng còn 2 triệu đồng chưa thanh toán trả đương sự.

    Về một số cán bộ xã có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự như ông T1, ông H7 sẽ làm đơn đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý sau vì quá trình giải quyết sơ thẩm chưa có yêu cầu.

    Quá trình dồn điền đổi thửa không đúng pháp luật, không phản ánh đúng sự thật khách quan vì không có việc Hội nghị xã viên thống nhất nội dung họp ngày 15/12/2013, việc này có nhiều người dân làm chứng.

    Đề nghị chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo hướng hủy các Quyết định hành chính là Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 của UBND xã H trả lời đơn kiến nghị của công dân thôn B, xã H; Quyết định số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch UBND xã H về giải quyết khiếu nại (lần đầu) và Quyết định giải quyết khiếu nại số 4342/QĐ-UBND ngày 04/9/2020 của Chủ tịch UBND huyện Ứ.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
  • Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung kháng cáo của người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính bác kháng cáo của ông Đinh Mạnh Q và anh Đinh Quốc H2, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 116/2022/HC-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Đinh Mạnh Q do là người cao tuổi. Anh Đinh Quốc H2 phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, quan điểm của Kiểm sát viên, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Đinh Mạnh Q, anh Đinh Quốc H2 được nộp trong thời hạn quy định của pháp luật nên đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Tòa án đã thực hiện việc triệu tập hợp lệ đối với các đương sự, tại phiên tòa, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có văn bản xin vắng mặt. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính 2015.

[2] Xét kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của ông Đinh Mạnh Q và anh Đinh Quốc H2, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Về đối tượng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đối tượng khởi kiện trong vụ án là Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 của UBND xã H trả lời đơn kiến nghị của của công dân thôn B, xã H; Quyết định số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch UBND xã H về giải quyết khiếu nại (lần đầu) và quyết định giải quyết khiếu nại số 4343/QĐ-UBND ngày 04/9/2020 của Chủ tịch UBND huyện Ứ là các quyết định hành chính được ban hành trong lĩnh vực quản lý đất đai thuộc đối tượng khởi kiện nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. HĐXX thấy Toà án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính. [2.2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 06/10/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận được đơn khởi kiện của ông Đinh Mạnh Q gửi đến yêu cầu hủy Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 của Ủy ban nhân dân xã H lời đơn kiến nghị của ông Đinh Mạnh Quyết định số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch Ủy ban

nhân dân xã H về giải quyết khiếu nại (lần đầu) và Quyết định giải quyết khiếu nại số 4342/QĐ-UBND ngày 04/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứ. HĐXX thấy TAND thành phố Hà Nội xác định các yêu cầu khởi kiện nói trên đảm bảo về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính là có căn cứ.

[2.3] Xét các quyết định hành chính bị khiếu kiện:

[2.3.1] Về thẩm quyền, trình tự ban hành:

  • Căn cứ quy định về thẩm quyền tại khoản 3 Điều 23 Luật Đất đai năm 2013 thì Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 của Ủy ban nhân dân xã H trả lời đơn kiến nghị của ông Đinh Mạnh Q là có căn cứ và đúng quy định.
  • Đối với Quyết định số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H về giải quyết khiếu nại (lần đầu) và Quyết định giải quyết khiếu nại số 4342/QĐ-UBND ngày 04/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứ: Do có khiếu nại đối với Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 của Ủy ban nhân dân xã H nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 86/ĐĐ-UBND ngày 01/6/2020 về giải quyết khiếu nại lần đầu và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứ ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 4342/QĐ-UBND ngày 04/9/2020 là đúng thẩm quyền theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Đất đai, Điều 18 Luật Khiếu nại năm 2011.

[2.3.2] Về nội dung các quyết định hành chính bị khiếu kiện:

  • Đối với Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 của Ủy ban nhân dân xã H:
  • Năm 1993, hộ gia đình ông Đinh Mạnh Q được giao 08 xuất tại 14 thửa đất với tổng diện tích là 2.973m² trong đó có 108m² đất 55 kinh tế phụ gia đình. Năm 2007-2008 gia đình ông Q đã đổi đất hai lúa ở các xứ đồng cho các hộ khác trong thôn để lấy đất tại khu Q Gốc cây đa, sau khi đổi đất hộ ông Q đã tự chuyển mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất nông nghiệp (chuyên màu) sang đất trồng cây lâu năm.

    Năm 2013, thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa theo chỉ đạo của UBND huyện Ứ. Đảng ủy, UBND xã H đã thành lập Ban chỉ đạo dồn điền đổi thửa của xã và chỉ đạo các thôn thành lập các Tiểu ban dồn điền đổi thửa của thôn; đồng thời các thôn xây dựng Đề án dồn điền đổi thửa và tổ chức Hội nghị đại biểu xã viên thông qua Đề án lấy ý kiến của xã viên.

    Sau khi xây dựng Đề án, các thôn tổ chức họp đại diện hộ xã viên thông qua Đề án đồng thời lập Tờ trình trình Ban chỉ đạo xã; UBND xã lập Tờ trình số 36/TTr-UBND, Phương án số 01/PA-UBND ngày 29/10/2013 về việc dồn điền đổi thửa của 2 thôn, thôn P và thôn B HĐND xã và đã được HĐND xã H biểu

quyết và ban hành Nghị quyết số 04/2013/NQ-HĐND ngày 30/10/2013 phê duyệt Phương án số 01/PA-UBND ngày 29/10/2013 của UBND xã về việc dồn điền đổi thửa của 2 thôn, thôn P và thôn B.

Ngày 08/11/2013, UBND huyện Ứ ban hành Quyết định số 654/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án dồn điền đổi thửa thôn P, B, xã H.

Sau khi có Quyết định phê duyệt trên, Ban chỉ đạo dồn điền đổi thửa xã H đã chỉ đạo Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 thực hiện việc dồn điền đổi thửa lần 2 đúng theo Đề án đã xây dựng và được Hội nghị Đại biểu xã viên nhất trí thông qua. Ngày 15/12/2013, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn B tổ chức Hội nghị đại diện hộ xã viên đã biểu quyết thông qua Đề án dồn điền đổi thửa thôn B trong đó có nội dung:

“Hội nghị nhất trí với tỷ lệ đổi với diện tích đất xen kẹt và các hộ tự ý chuyển đối là 1 sào được 0,7 sào nếu các hộ xin nhận diện tích đất trên, nếu hộ nào không chấp hành thì yêu cầu phải giải phóng mặt bằng trước khi chia ruộng để bàn giao trả tập thể. Để tập thể phân chia cho các hộ xã viên, nếu hộ nào cố tình không chấp hành phải chịu trách nhiệm với tập thể và pháp luật hiện hành, để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước”.

Năm 2013, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 đã giao đủ diện tích đất nông nghiệp cho hộ ông Đinh Mạnh Q tại xứ đồng Quan Viên Gốc cây đa; nhưng do hộ ông Đinh Mạnh Q là hộ tự ý chuyển đổi đất nông nghiệp nên chỉ được chia theo tỷ lệ 1 sào được 0,7 sào; tổng diện tích đất được giao theo Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013 là: 08 xuất x 376m²/xuất - 3008m² x 0,7 = 2105,6m² + 108m² (đất 5%) = 2213,6m2. Diện tích thực tế ông Q đang sử dụng 2318,4m², tăng 104,8m² so với diện tích được giao.

Tháng 7 năm 2019, Ủy ban nhân dân xã H nhận được đơn kiến nghị của ông Q đề nghị giải quyết việc Tiểu ban dồn điền đổi thửa năm 2013 giao ruộng cho gia đình ông còn thiếu 1170m², đồng thời đề nghị xem xét việc Ban chuyển đổi ruộng đất thôn B đưa diện tích đất ở gốc đa phần nhiêu, đất Quan viên gốc Đa của gia đình ông vào đất xen kẹt là không đúng với pháp luật. Ngày 14/02/2020 UBND xã H ban hành Thông báo số 20/TB-UBND về giải quyết đơn của ông Q. Nội dung thông báo “Việc hộ ông Đinh Mạnh Q được nhận ruộng tại xứ đồng Quan Viên, thôn B là đúng theo Nghị quyết và Đề án dồn điền đổi đất thửa sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013, do Tiểu ban đồn thửa thôn B lập ngày 24/10/2013, kết quả Hội nghị xã viên đại diện hộ ngày 15/12/2013".

Ông Đinh Mạnh Q không đồng ý với Thông báo số 20 TB-UBND ngày 14/02/2020 của Ủy ban nhân dân xã H về trả lời đơn kiến nghị của công dân thôn B, xã H và Quyết định số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H về giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Q vì cho rằng:

Thông báo số 20/TB-UBND của Ủy ban nhân dân xã H trả lời ông Q là Tiểu ban dồn điền đổi thửa của thôn B khi giao ruộng cho hộ gia đình ông Đinh Mạnh Q là đúng với Đề án đã được Hội nghị xã viên thông qua là không đúng với các văn bản của huyện vì: Tại phần n Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013 (đề án do ông Q cung cấp) ghi: Tổng diện tích đất nông nghiệp còn lại chia cho xã viên 822.429m² chia cho 2029,5 xuất = 405m²/xuất và mục 2 ghi “Đối với diện tích đất nông nghiệp xen trong đã được xã viên sử dụng lập vườn thì đều được trừ vào diện tích ruộng cấy ngoài đồng hệ số loại đất 1 = 0,78".

Theo Hướng dẫn số 61/HD-KT ngày 17/8/2012 của Phòng Kinh tế huyện Ứ tại mục 3.5, phần I ghi “Việc chuyển đổi đất không đồng nghĩa với việc chuyển, xem xét tiêu chuẩn để chia ruộng vì thế phải tuân thủ nguyên tắc (sinh không tăng, từ không giảm)..., phải giao đủ số diện tích các hộ được chia theo Nghị định 64....,".

Diện tích của gia đình ông Đinh Mạnh Q tại xứ đồng Quan Viên, Gốc cây đa trước khi dồn điền đổi thửa lần 2 năm 2013 không phải là đất xen kẹt mà là đất nông nghiệp nên áp dụng chia theo đất xen kẹt là không đúng.

Hội đồng xét xử thấy: Năm 2013, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 đã giao đủ diện tích đất nông nghiệp cho hộ ông Đinh Mạnh Q tại xứ đồng Quan Viên, gốc cây đa; nhưng do hộ ông Đinh Mạnh Q là hộ tự ý chuyển đổi đất nông nghiệp nên chỉ được chia theo tỷ lệ 1 sào được 0,7 sào; tổng diện tích đất được giao theo Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013 là: 08 xuất x 376m²/xuất = 3008m² x 0,7 = 2105,6m² + 108m² (đất 5%) = 2213,6m2. Diện tích thực tế ông Q đang sử dụng 2318,4m², tăng 104,8m² so với diện tích được giao. Việc giao đất nông nghiệp cho hộ ông Q như đã nêu là đúng với Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013, đúng tinh thần Nghị quyết Hội nghị đại biểu xã viên HTXNN1 ngày 15/12/2013 họp bàn, thống nhất.

Đối với ý kiến của ông Đinh Mạnh Q cho rằng Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 giao ruộng cho gia đình ông không đúng với Đề án dồn điền đổi thửa năm 2013 của thôn B, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Năm 2013 thực hiện sự chỉ đạo của UBND xã H về kế hoạch dồn điền đổi thửa lần 2 theo chỉ đạo của UBND huyện Ứ. Thôn B đã thành lập Tiểu ban dồn điền đổi thửa của thôn gồm 25 thành viên trong đó có đại diện đã sống trên các hộ xã viên của 04 xóm thôn B.

Ngày 24/10/2013 Tiểu ban dồn ô đổi thửa thôn B đã xây dựng Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013. Từ Đề án dồn điền đổi thửa đã xây dựng, Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 đã tổ chức Hội nghị họp để lấy ý kiến đóng góp bổ sung, hoàn thiện Đề án dồn điền đổi thửa. Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các thành viên trong Tiểu ban dồn điền đổi thửa; Tiểu ban

dồn điền đổi thửa thôn B đã hoàn thiện bản Đề án để thực hiện; cụ thể tại đề án đã điều chỉnh diện tích làm đường giao thông nội đồng, mương tiêu thoát nước, nghĩa trang N2 và các công trình phúc lợi khác...;

Sau khi điều chỉnh, hoàn thiện lại Đề án dồn điền đổi thửa, ngày 15/12/2013 thôn B đã tổ chức Hội nghị để xin ý kiến của nhân dân về Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013. Thành phần Hội nghị gồm đại diện Ủy ban nhân dân huyện Ứ, đại diện Ủy ban nhân dân xã H, các ông bà trong Tiểu ban chuyển đổi dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 và 286 ông bà đại diện cho các hộ trong thôn B. Hội nghị bàn về kế hoạch, đề án chuyển đổi từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn. Kết quả Hội nghị đã được nhân dân nhất trí đề án chuyển đổi từ ô thừa nhỏ thành ô thửa lớn của thôn.

Nội dung đề án tại phần n ghi “Tổng diện tích đất nông nghiệp còn lại chia 2 cho xã viên là: 763340m² chia cho 2029,5 xuất = 376m²/xuất” và mục 2 ghi “Đối với diện tích đất nông nghiệp xen trong thổ cư đã được xã viên sử dụng lập vườn thì đều được trừ vào diện tích ruộng cấy ngoài đồng hệ số loại đất 1 = 0,7”.

Đối với Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013 do ông Đinh Mạnh Q cung cấp ghi: “Tổng diện tích đất nông nghiệp còn lại chia cho xã viên 822.429m² chia cho 2029,5 xuất = 405m²/xuất” và mục 2 ghi “Đối với diện tích đất nông nghiệp xen trong thổ cư đã được xã viên sử dụng lập vườn thì đều được trừ vào diện tích ruộng cấy ngoài đồng hệ số loại đất 1 = 0,78". Là bản dự thảo đề án chưa được sửa đổi bổ sung, chưa phải đề án chính thức để Tiểu ban dồn điền đổi thửa trình trước Hội nghị đại biểu xã viên và trình UBND xã H.

Sau khi giao ruộng cho hộ ông Đinh Mạnh Q như đã nêu trên, tháng 12/2014 công dân đã có đơn tố cáo đối với ông Nguyễn Quang K - Bí thư Đảng ủy xã; ông Nguyễn Văn T2 - Chủ tịch UBND xã H; ông Nguyễn Duy T1 - Bí thư chi bộ thôn B, xã H, trong đó có nội dung: “Việc giao ruộng canh tác cho ông Đinh Mạnh Q 1 sào được 0,7 sào còn hộ ông Nguyễn Quý S 1 sào được 1 sào”.

Tố cáo trên của công dân đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứ ban hành Kết luận số 108/KL-UBND, ngày 13/7/2015 về Kết luận nội dung tố cáo đối với ông K - Bí thư Đảng ủy xã; ông T2 - Chủ tịch UBND xã H; ông T1 - Bí thư Chi bộ thôn B, xã H; Tại điểm c phần 2 kết luận nội dung thứ nhất ghi “Giao ruộng canh tác cho hộ ông Đinh Mạnh Q 1 sào hưởng 0,7 sào, hộ ông Nguyễn Quý S 1 sào hưởng đủ 1 sào là đúng với nghị quyết họp xã viên đại diện hộ HTXNN Bài Lâm H6".

Không đồng ý với Kết luận số 108/KL-UBND ngày 13/7/2003 của Chủ tịch UBND huyện Ứ; công dân có đơn tiếp tố gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H. Ngày 04/7/2016 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Kết luận số 11/KL-UBND về nội dung tố cáo đối với một số cán bộ thôn B, xã H, huyện Ứ.

Tại phần 1.4. Nội dung 4: Ghi “Hộ ông Đinh Mạnh Q và hộ ông Nguyễn Quý S là hai hộ được giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, hộ ông Đinh Mạnh Q tự chuyển đổi với một số hộ lấy đất màu và nằm trong danh sách 53 hộ có tồn tại về đất của thôn B (các hộ vi phạm về đất đai như: lấn chiếm, tự ý chuyển đổi quyền sử dụng đất, sử dụng sai mục đích) hộ ông Nguyễn Quý S trong quá trình sử dụng không tự ý chuyển đổi và không nằm trong danh sách các hộ có tồn tại về đất. Việc hộ ông Đinh Mạnh Q được chia 1 sào được hưởng 0,7 sào còn hộ ông Nguyễn Quý S được chia 1 sào hưởng đủ 1 sào là phù hợp với Nghị quyết được thông qua tại Hội nghị xã viên thôn B”.

Như vậy, việc Ủy ban nhân dân xã H ban hành Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 trả lời kiến nghị của ông Đinh Mạnh Q, thôn B, xã H, cụ thể: Việc hộ ông Đinh Mạnh Q được nhận ruộng tại xứ đồng Quan Viên, Gốc cây đa, thôn B là đúng theo Đề án dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp thôn B năm 2013, do Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn B lập ngày 24/10/2013 và Nghị quyết Hội nghị đại biểu xã viên đại diện hộ ngày 15/12/2013.

Ông Đinh Mạnh Q cho rằng việc tổ chức Hội nghị đại biểu xã viên ngày 15/12/2013 thông qua Đề án dồn điền đổi thửa thôn Bài Lâm H6 không được sự trí của các xã viên tham dự cuộc họp. Việc này ông Q có cung cấp ý kiến của ông Nguyễn Đình T3 và ông Tạ Thuyết Đ1 có nội dung như trình bày của ông Q. Tuy nhiên, quan 2 lần giải quyết tố cáo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H đã kết luận việc tổ chức Hội nghị đại biểu xã viên ngày 15/12/2013 là đúng quy định và nội dung tố cáo là sai.

Đối với yêu cầu đòi lại diện tích 5% đã bị thu hồi để thực hiện dồn điền đổi thửa nhưng chưa được cấp lại. Hội đồng xét xử nhận định: Theo Đề án dồn điền đổi thửa năm 2013 thì tổng diện tích đất được giao cho hộ ông Q là 2213,6m² (8 xuất x 376m²/suất 3008m² x 0,7 2105,6m² và cộng thêm 108m² (đất 5%) 2213,6m2. Diện tích thực tế gia đình ông Q đang sử dụng là 2318,4m² tăng 104,8m² so với diện tích đất được giao. Như vậy, phần diện tích đất 5% vẫn do gia đình ông Q đang quản lý và sử dụng. Hội đồng xét xử nhận định yêu cầu đòi lại đất 5% của ông Q không có cơ sở để chấp nhận.

- Đối với Quyết định số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H về giải quyết khiếu nại (lần đầu) và Quyết định giải quyết khiếu nại số 4342/QĐ-UBND ngày 04/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứ:

Do xác định Ủy ban nhân dân xã H ban hành Thông báo số 20/TB-UBND ngày 14/02/2020 trả lời kiến nghị của ông Đinh Mạnh Q với nội dung giải quyết là đúng quy định nên Quyết định giải quyết khiếu nại số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H với nội dung giữ nguyên Thông báo số 20/TB-UBND nói trên và Quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2) số

4342/QĐ-UBND ngày 04/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứ có nội dung giữ nguyên Quyết định giải quyết khiếu nại số 86/QĐ-UBND ngày 01/6/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H là đúng quy định của pháp luật.

- Từ các phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy việc ông Đinh Mạnh Q khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định hành chính nói trên là không có cơ sở pháp lý. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Mạnh Q là có căn cứ pháp luật.

[3] Tại cấp phúc thẩm, ông Q và anh H2 không cung cấp thêm chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Quan điểm của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Đinh Mạnh Q về việc hủy bản án sơ thẩm là không có căncứ chấp nhận vì những vi phạm tố tụng như đã nêu không làm thay đổi bản chất vụ án.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, người khởi kiện ông Đinh Mạnh Q, anh Đinh Quốc H2 phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên do ông Q là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí cho ông Q.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 1 Điều 241, khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Bác toàn bộ kháng cáo của ông Đinh Mạnh Q và anh Đinh Quốc H2.
  2. Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 116/2022/HC-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
  3. Về án phí phúc thẩm:
    • Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Đinh Mạnh Q do là người cao tuổi.
    • Anh Đinh Quốc H2 phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0001087 ngày 14/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

4. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự (theo đ/c);
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ong Thân Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2024/HC-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 252/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai giữa người khởi kiện: Đinh Mạnh Q - Người bị kiện: Chủ tịch UBND huyện U, Chủ tịch và UBND xã H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger