Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 252/2024/DS-ST

Ngày 27-9-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Văn Kiệt.
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Trọng Lễ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 tháng 8 và 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 67/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Tiết X, sinh năm 1960.

Địa chỉ: số A, đường H, Khu phố H, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Đình Quang H, sinh năm 1989 (có mặt).

Địa chỉ: số A, đường H, Khu phố H, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo văn bản ủy quyền ngày 14/7/2023.

- Bị đơn: Ông Lê Thành Đ, sinh năm 1963 (có mặt).

Địa chỉ: số A, đường T, Khu phố H, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Kim G, sinh năm 1942.
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thành Đ, sinh năm 1963, theo văn bản ủy quyền ngày 05/7/2023 (có mặt).

  3. Ông Lê Nguyễn Minh N, sinh năm 1990 (xin vắng mặt).
  4. Bà Lê Nguyễn Minh H1, sinh năm 1993 (xin vắng mặt).
  5. Cùng địa chỉ: số A, đường T, Khu phố H, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

  6. Ngân hàng N2.
  7. Địa chỉ: số B, đường L, phường T, quận B, Thành Phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thanh H2, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh thành phố M.

    Địa chỉ: số I, đường T, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo văn bản ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022.

    Người được ông H2 ủy quyền lại: Ông Phạm Văn S, chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách Chi nhánh thành phố M (vắng mặt).

    Địa chỉ Phòng giao dịch: số B, đường Ấ, Phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo văn bản ủy quyền số 263/NHNo.TPMT-TH ngày 08/8/2024.

  8. Ủy ban nhân dân thành phố M.
  9. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành C, chức vụ: Chủ tịch (xin vắng mặt).

    Địa chỉ: số C, đường H, Phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 16/5/2023, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 28/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn bà Lê Tiết X là ông Ngô Đình Quang H trình bày:

Ngày 27/3/2009 bà được Ủy ban nhân dân thành phố M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 02, diện tích 214,63m², đất trồng cây lâu năm, tại Khu phố H, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02276. Vị trí đất của bà phía Đông giáp đất bà Lê Thị Kim G và ông Lê Thành Đ.

Do bận công việc nên bà không thường xuyên đến kiểm tra đất, vừa qua khi bà đến phần đất của mình thì phát hiện hộ ông Đ và bà G đã cố tình lấn chiếm đất của bà, xây tường chắn ngang mặt tiền đất, dựng tôn lấn chiếm đất bà. Bà đã nhiều lần yêu cầu ông Đ trả lại phần đất đã lấn chiếm nhưng ông Đ không đồng ý.

Đối với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá thì nguyên đơn thống nhất. Về chi phí tố tụng nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với các cây trồng, bức tường giáp đường T (trước kia là hàng rào lưới B40), hàng rào bằng tole trên đất tranh chấp do ông Đ tự trồng và tự xây dựng, khi bà X phát hiện thì bà G có ý kiến để ông Đ trồng cây để có huê lợi và làm hàng rào để bảo vệ đất nên bà X không có ý kiến gì. Nay các bên có tranh chấp thì ông Đ phải tự tháo dỡ, di dời trả lại đất cho nguyên đơn, nguyên đơn không đồng ý bồi thường các chi phí này cho ông Đ.

Bà Lê Tiết X yêu cầu ông Lê Thành Đ tháo bỏ tôn cập ranh đất của bà và đập bỏ phần tường đã xây dựng trước mặt tiền đất của bà, trả lại cho bà phần đất 62,2m².

* Theo Bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Thành Đ trình bày:

Nguyên cha mẹ ông là ông Lê Văn B và bà Nguyễn Kim A qua đời có để lại nhà đất tại số A, đường T, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (nay là số A, đường T, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang).

Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sụ số 24/2008/QĐST-DS ngày 12/6/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho bà Lê Thị Kim G sử dụng diện tích 1.156,61m², Ủy ban nhân dân thành phố M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02184 ngày 30/10/2008, thửa đất số 61. Bà G và ông Đ đồng sử dụng phần đất vườn + thổ cư diện tích 540,38m², Ủy ban nhân dân thành phố M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02177 ngày 16/10/2008 (chiều ngang mặt tiền giáp đường T là 12,05m), thửa đất số 60.

Ngày 04/3/2009 bà Lê Thị Kim G tặng cho bà Lê Tiết X một phần đất thuộc thửa 61, mặt tiền chiều ngang 2m làm lối đi nhưng bà X tự ý thay đổi kích thước chiều ngang mặt tiền là 4,13m là không đúng với ý chí của bà G lúc tặng cho. Phần đất bà G tặng cho bà X thể hiện vị trí tứ cận giáp phần đất của ông và bà G đồng sở hữu nhưng khi bà X làm thủ tục tách thửa thì ông không biết, không chứng kiến và không ký tên vào biên bản giáp ranh.

Phần diện tích đất còn lại của G là 941,98m², Ủy ban nhân dân thành phố M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02274 ngày 27/3/2009, thửa số 67. Ngày 25/5/2020 bà G làm thủ tục tặng cho ông Đ toàn bộ phần đất thuộc thửa 67, trong đó ngang mặt tiền là 7,87m. Như vậy, diện tích đất mặt tiền của thửa 60 và 67 là 19,92m (12,05m + 7,87m).

Trước đây các bên không có tranh chấp thì gia đình bà X đồng ý cho ông xây dựng bức tường giáp đường T (trước kia là hàng rào lưới B40) để bảo vệ chung các thửa đất, bà X sử dụng cổng chính phần đất của ông để đi ra phần đất phía sau của bà X. Khi xây bức tường ông Đ có thông báo cho bà X thì bà X cũng đồng ý cho ông xây dựng khi nào bà X lấy lại đất thì ông tháo dỡ bức tường trả lại. Đồng thời, bà X cũng cho bà G trồng cây ăn trái trên phần đất của bà X để hưởng huê lợi.

Trường hợp Tòa án buộc ông Đ phải di dời cây trồng, bức tường và hàng rào tole trả lại phần đất 62,2m² cho bà X thì ông Đ đề nghị bà X hoàn trả lại cho ông giá trị các tài sản này.

Ông Đ sử dụng đúng vị trí ranh tiếp giáp giữa hai thửa 67 và 68 nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Theo Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai của Tòa án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim G trình bày:

Nguyên phần đất tranh chấp (tranh chấp ranh đất giữa thửa 68 với thửa 670 và phần đất thổ cư tại thửa 60 đều có nguồn gốc của cha mẹ bà để lại. Bà G được trọn quyền sử dụng đối với các thửa đất:

  • Thửa 61: Diện tích 1.156,31m², Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất số H02184 ngày 30/10/2008 cho bà Lê Thị Kim G.
  • Thửa 60: Diện tích 540,38m², Nhà nước cấp cho người đại diện là ông Lê Thành Đ đứng tên, bà G đồng sử dụng quyền sử dụng đất với ông Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02177 ngày 16/10/2008, sơ đồ thửa đất thể hiện diện tích 540,38m², mặt tiền ngang là 12,05m.

Do em bà là bà Lê Tiết X có thửa đất vườn số 15, diện tích 952m2, vị trí phía sau thửa số 60, 61 không có lối đi ra mặt tiền đường công cộng Trần Nguyên H3 nên bà cắt 02m ngang đất mặt tiền thuộc thửa 61 của bà để làm đối đi cho bà X đúng theo ý nguyện của cha mẹ trước khi qua đời “nếu sau nầy người anh, em nào sử dụng thửa đất mặt tiền đường T thì chừa ra 2m để làm lối đi hộ phía sau – Lê Tiết X”.

Về thủ tục tặng cho, tách thửa, tích diện tích 02m bà đưa toàn bộ giấy tờ bản chính, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giấy tờ liên quan kể cả giấy tờ viết vay đồng ý cho 02m ngang đất mặt tiền thuộc thửa 61 và giao cho Lê Tiết X liên hệ cơ quan nhà nước làm thủ tục tách 02m ngang, dài khoảng 75m để làm lối đi. Khi làm thủ tục tách thửa phần đất bà tặng cho bà X tự ý kê khai thành 4,13m là không đúng sự thật không đúng ý nguyện của bà lúc tặng cho bà X.

Sau khi tặng cho một phần đất thuộc thửa 68 cho bà X, thửa đất 61 của bà còn lại diện tích 941,98m², bà làm thủ tục cấp đổi được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02274 ngày 27/3/2009 thuộc thửa số 67. Sơ đồ thửa đất thể hiện mặt tiền ngang là 7.87m, biên bản về việc xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng ngày 09/12/2009 xác định diện tích đất, ranh giới, vị trí chiều ngang mặt tiền bà X có ký tên xác nhận.

Ngày 14/5/2020 bà làm thủ tục tặng cho ông Lê Thành Đ đứng tên toàn bộ diện tích 941,98m² thuộc thửa 67, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố M chỉnh lý, xác nhận tại trang IV trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H02274.

Nay bà chỉ đồng ý cho bà X 02m ngang để làm đường đi từ đường T ra đến sau vườn của bà X.

* Theo Bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Nguyễn Minh H1 trình bày:

Từ thuở nhỏ bà sống cùng ông bà, cha mẹ tại tại số A, đường T, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc do ông, bà để lại cho cha bà và các cô đã sử dụng đúng vị trí, đúng ranh giới, đúng diện tích đất, sử dụng ổn định thòi gian dài trên 30 năm.

Khi ông bà nội bà còn sống có nói sau này nếu các cô, chú đứng tên quyền sử dụng đất mặt tiền thì cắt 2m theo chiều ngang để làm lối đi cho người có đất nằm vị trí phía sau. Cô thứ hai của bà là bà Lê Thị Kim G có đứng tên thửa đất mặt tiền số 67 nên bà G có làm giấy tặng cho bà X 2m mặt tiền để làm lối đi thẳng ra phần đất của bà X nằm vị trí phía sau. Bà X sử dụng lối đi 2m này ổn định từ lâu, còn việc ai làm thủ tục tặng cho thì bà không rõ cũng không nhớ ngày tháng năm nào. Nay bà X đòi lối đi 4m là không đúng vì bà nghe, biết rõ đất tặng cho làm lối đi chỉ có 2m ngang, dài hết đất.

* Theo Bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Nguyễn Minh N trình bày:

Từ thuở nhỏ ông sống cùng ông bà, cha mẹ tại tại số A, đường T, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc do ông, bà để lại cho cha ông và các cô đã sử dụng đúng vị trí, đúng ranh giới, đúng diện tích đất, sử dụng ổn định thòi gian dài trên 30 năm.

Ông thống nhất ý kiến của bà Lê Nguyễn Minh H1. Nay bà X đòi lối đi 4m là không đúng vì đất tặng cho làm lối đi chỉ có 2m ngang, dài hết đất.

* Theo Văn bản số 2057/UBND-BTCD ngày 21/5/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố M trình bày:

Ủy ban nhân dân thành phố M có nhận Thông báo số 206.6/TB-TA ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn Lê Tiết X.

Do điều kiện công tác, Ủy ban nhân dân thành phố M xin vắng mặt không tham gia phiên tòa trong vụ án này và tất cả các giai đoạn tố tụng tại các cấp Tòa án đến khi kết thúc vụ án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Tiết X thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Thành Đ giao lại cho bà phần đất có chiều ngang 2,7m tính từ điểm tiếp giáp phần đất ông Nguyễn Vân N1, chiều dài hết thửa đất số 68, bao bồm một phần thửa đất số 68 (diện tích 140,3m² + 12,1m²), một phần thửa đất số 67 (diện tích 34,4m²) và một phần thửa đất số 127 (diện tích 0,3m²). Đối với phần đất còn lại thuộc thửa đất số 68 (diện tích 20,2m² + 6,6m²) thì bà X giao lại cho ông Đ. Đối với các tài sản trên đất bà X yêu cầu ông Đ giao lại cho bà 07 cây dừa, bà X đồng ý hỗ trợ ông Đ 5.000.000 đồng chi phí di dời các tài sản còn lại. Đối với chi phí đo đạc, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá bà X tự nguyện chịu.

Bị đơn ông Lê Thành Đ đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà X. Ông Đ không yêu cầu hủy bỏ một phần diện tích 64,63m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02276 do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 27/3/2009 cho bà Lê Tiết X.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Nguyễn Minh H1, ông Lê Nguyễn Minh N, Ủy ban nhân dân thành phố M xin vắng mặt trong quá trình xét xử.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 vắng mặt tại phiên tòa ngày 27/9/2024.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận nguyên đơn bà Lê Tiết X và bị đơn ông Lê Thành Đ về việc ông Đ giao lại cho bà X phần đất có chiều ngang 2,7m tính từ điểm tiếp giáp phần đất ông Nguyễn Vân N1, chiều dài hết thửa đất số 68, bao bồm một phần thửa đất số 68 (diện tích 140,3m²+ 12,1m²), một phần thửa đất số 67 (diện tích 34,4m²) và một phần thửa đất số 127 (diện tích 0,3m²). Đối với phần đất còn lại thuộc thửa đất số 68 (diện tích 20,2m² + 6,6m²) thì bà X giao lại cho ông Đ. Đối với các tài sản trên đất, ông Đ giao lại cho bà X 07 cây dừa, bà X hỗ trợ ông Đ 5.000.000 đồng chi phí di dời các tài sản còn lại. Đối với chi phí đo đạc, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá bà X tự nguyện chịu.

Bà X, ông Đ được liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Bà Lê Tiết X yêu cầu ông Lê Thành Đ trả lại cho bà phần đất thuộc thửa số 68. Ngoài ra các đương sự không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai năm 2013.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tại Khu phố H, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Nguyễn Minh H1, ông Lê Nguyễn Minh N, Ủy ban nhân dân thành phố M có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 vắng mặt tại phiên tòa ngày 27/9/2024. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H1, ông N, Ủy ban nhân dân thành phố M và Ngân hàng N2.

[1.4] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của đương sự:

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Tiết X thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Thành Đ giao lại cho bà phần đất có chiều ngang 2,7m tính từ điểm tiếp giáp phần đất ông Nguyễn Vân N1, chiều dài hết thửa đất số 68, bao bồm một phần thửa đất số 68 (diện tích 140,3m² + 12,1m²), một phần thửa đất số 67 (diện tích 34,4m²) và một phần thửa đất số 127 (diện tích 0,3m²). Đối với phần đất còn lại thuộc thửa đất số 68 (diện tích 20,2m² + 6,6m²) thì bà X giao lại cho ông Đ. Đối với các tài sản trên đất bà X yêu cầu ông Đ giao lại cho bà 07 cây dừa, bà X đồng ý hỗ trợ ông Đ 5.000.000 đồng chi phí di dời các tài sản còn lại. Đối với chi phí đo đạc, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá bà X tự nguyện chịu. Việc thay đổi này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu của bà Lê Tiết X yêu cầu ông Lê Thành Đ giao lại cho bà phần đất có chiều ngang 2,7m tính từ điểm tiếp giáp phần đất ông Nguyễn Vân N1, chiều dài hết thửa đất số 68, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ kết quả trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố M cung cấp thửa đất số 68, tờ bản đồ số 02, tại khu phố H, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang do Ủy ban nhân dân dân thành phố M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02276 ngày 27/3/2009 cho bà Lê Tiết X (bút lục 159). Nguồn gốc do bà Lê Thị Kim G tách một phần thửa đất số 61, tờ bản đồ số 02, tại khu phố H, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (thửa 68) tặng cho bà X theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 04/3/2009 (bút lục 136 – 167). Phần đất còn lại của thửa 61 (thửa 67) bà G tặng cho Lê Thành Đ theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/5/2020 (bút lục 115, 116) cập nhật biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tặng cho ông Đ ngày 25/5/2020 theo hồ sơ số 001063.TA.001.

Quá trình giải quyết vụ án, bà X và ông Đ xác định sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 68 bà X giao cho bà G, ông Đ cùng quản lý, sử dụng, bà X chỉ thỉnh thoảng đến phần đất này. Ông Đ có xây tường rào gạch và trồng cây ăn trái trên đất, khi hai bên phát sinh tranh chấp ông Đ đập bỏ một phần tường rào và xây dựng thêm hàng rào tole dọc thửa đất số 68. Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2024 và Chứng thư thẩm định giá ngày 08/4/2024 thể hiện trên phần đất tranh chấp có các tài sản gồm: tường rào gạch chất lượng còn lại 40%, hàng rào tole chất lượng còn lại 60%, 01 cây xoài thái loại D, 01 cây xoài úc loại B1, 01 cây bơ loại C, 01 cây mít lại C, 01 cây dừa thường loại C, 03 cây dừa xiêm lại loại C, 03 cây dừa xiêm lại loại B1 và 02 bụi chuối loại 1.

Tại phiên tòa ngày 27/9/2024, nguyên đơn bà X và bị đơn ông Đ thống nhất ông Đ giao trả lại cho bà X phần đất chiều ngang 2,7m tính từ điểm tiếp giáp phần đất ông Nguyễn Vân N1, chiều dài hết thửa đất số 68, bao bồm một phần thửa đất số 68 (diện tích 140,3m² + 12,1m²), một phần thửa đất số 67 (diện tích 34,4m²) và một phần thửa đất số 127 (diện tích 0,3m²). Đối với phần đất còn lại thuộc thửa đất số 68 (diện tích 20,2m² + 6,6m²) thì bà X giao lại cho ông Đ nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối vời tài sản trên đất, tại phiên tòa bà X và ông Đ thống nhất ông Đ giao lại cho bà X 01 cây dừa thường, 06 cây dừa xiêm; ông Đ tự tháo dỡ, di dời tường rào gạch, hàng rào tole, 01 cây xoài thái, 01 cây xoài úc, 01 cây bơ, 01 cây mít và 02 bụi chuối. Thời gian ông Đ di dời tài sản là 01 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Bà X đồng ý hỗ trợ ông Đ 5.000.000 đồng chi phí di dời, thực hiện một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Tiết X.

[3] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí đo đạc, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản tranh chấp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về án phí: Bà Lê Tiết X, ông Lê Thành Đ là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

[5] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 158; Điều 164; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Tiết X.

1.1 Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Thành Đ về việc giao trả lại cho bà Lê Tiết X phần đất chiều ngang 2,7m tính từ điểm tiếp giáp phần đất ông Nguyễn Vân N1, chiều dài hết thửa đất số 68, bao bồm một phần thửa đất số 68 (diện tích 140,3m² + 12,1m²), một phần thửa đất số 67 (diện tích 34,4m²) và một phần thửa đất số 127 (diện tích 0,3m²), có vị trí tứ cận như sau:

  • Phía Bắc giáp: Đường T;
  • Phía Nam giáp: Đất Lê Tiết X;
  • Phía Đông giáp: Một phần thửa đất số 68; thửa đất số 127 và thửa đất số 67;
  • Phía Tây giáp: Đất Nguyễn Vân N1;

1.2 Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Tiết X về việc giao lại cho Lê Thành Đ phần đất còn lại thuộc thửa đất số 68 (20,2m² + 6,6m²), có vị trí tứ cận như sau:

  • Phía Bắc giáp: Đường T;
  • Phía Nam giáp: Thửa đất số 67;
  • Phía Đông giáp: Thửa đất số 67;
  • Phía Tây giáp: Một phần thửa đất số 68;

(có sơ đồ kèm theo).

1.3 Bà Lê Tiết X và ông Lê Thành Đ được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các phần đất nêu trên.

1.4 Về tài sản trên đất tranh chấp:

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Thành Đ về việc giao lại cho bà Lê Tiết X 01 cây dừa thường, 06 cây dừa xiêm. Ông Đ tự tháo dỡ, di dời các tài sản trên đất gồm: tường rào gạch, hàng rào tole, 01 cây xoài thái, 01 cây xoài úc, 01 cây bơ, 01 cây mít và 02 bụi chuối. Thời gian ông Đ di dời tài sản là 01 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Tiết X về việc hỗ trợ ông Lê Thành Đ chi phí di dời tài sản trên đất tranh chấp là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Thực hiện một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Tiết X về việc chịu toàn bộ chi phí đo đạc; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp, bà X đã nộp đủ.

3. Về án phí: Bà Lê Tiết X, ông Lê Thành Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại bà Lê Tiết X 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0023882 ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Tiết X, ông Lê Thành Đ, bà Lê Thị Kim G có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Nguyễn Minh H1, ông Lê Nguyễn Minh N, Ủy ban nhân dân thành phố M và Ngân hàng N2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND TP. Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP. Mỹ Tho;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 252/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 252/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger