TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 251/2024/HNGĐ-ST Ngày 29/7/2024 V/v T/c Hôn nhân và gia đình. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành
Bà Hoàng Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 29/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 150/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lâm Đức M, sinh năm 1989; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện ở Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện về việc ly hôn và bản tự khai, chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị N và anh Lâm Đức M kết hôn tự nguyên và có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An ngày 20/3/2016. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Năm 2017, anh M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Do xa cách nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay, anh M không còn quan tâm đến vợ, con. Anh M đang làm việc tại Đài Loan. Chị N cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh M ở Đài Loan do vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Vì vậy, chị N làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Lâm Đức M.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lâm Quốc K, sinh ngày 02/9/2016. Hiện nay cháu sống với chị. Khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía anh Lâm Đức M: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Lâm Đức M có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án...cho anh Lâm Đức M thông qua ông Lâm Bá C, bà Vũ Thị H là bố mẹ đẻ của anh Lâm Đức M; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện anh Lâm Đức M vẫn vắng mặt không có lý do. Theo trình bày của ông C, bà H thì anh M hiện đang ở Đài Loan, vẫn liên lạc về với ông, bà qua điện thoại, nhưng không nói địa chỉ hiện tại của anh M ở đâu. Ông bà đã nói với anh M về việc chị N yêu cầu ly hôn, anh M đồng ý. Ông bà không có ý kiến gì với việc ly hôn của chị N, anh M.
Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 7812/QLXNC-P3 ngày 19/4/2024 của Cục Q – Bộ C1: Anh Lâm Đức M có thông tin xuất cảnh ngày 08/4/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Cháu Lâm Quốc K có nguyện vọng tiếp tục được ở mẹ để ổn định cuộc sống.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Lâm Đức M; giao con chung của vợ chồng cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại tỉnh Nghệ An; hiện đang lưu trú tại Đài Loan. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, chị Nguyễn Thị N và anh Lâm Đức M kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuộc sống, nhưng không được hàn gắn, giải quyết. Hai vợ chồng không còn cùng hướng đến xây dựng hạnh phúc. Khi biết chị N làm đơn yêu cầu ly hôn, anh M cũng đồng ý. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lâm Đức M không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lâm Đức M.
[2.2.] Về con chung: Chị N và anh M có con chung là cháu Hoàng Đức H1, sinh ngày 01/05/2014, hiện cháu đang ở chị N. Anh M đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể, chị N đang ở Việt Nam, chị N đồng ý nhận nuôi dưỡng, chăm sóc các con, vì vậy cần giao con chung cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu, anh M cũng không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
[2.3] Tài sản chung, nợ: Chị Nguyễn Thị N chưa yêu cầu giải quyết và anh Lâm Đức M cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền khởi kiện theo quy định.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, điểm d, khoản 1 Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 82, 83, 84 Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
[1] Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lâm Đức M.
[2] Con chung: Giao con chung là cháu Lâm Quốc K, sinh ngày 02/9/2016 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
[3] Về tài sản: Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn theo quy định pháp luật.
[4] Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012815 ngày 02/5/2024.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:
Anh Lâm Đức M đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Chị Nguyễn Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |
Bản án số 251/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 251/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly Hon Ngoc Minh
