|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 251/2024/HSST Ngày: 04/12/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
|
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: |
|
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: | Bà Đỗ Thị Vân. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Vĩ. |
| Ông Dương Văn Xuyên. | |
- Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 224/2024/TLST-HS ngày 30/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trịnh Đăng K - Sinh ngày 28/8/1999 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Trịnh Văn H, sinh năm 1969. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1976. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ, T1 giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 615 ngày 10/8/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Họ và tên: Đào Trường A - Sinh ngày 25/9/1999 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 10/12. Họ tên cha: Đào Ngọc V, sinh năm 1970. Họ tên mẹ: Ngô Thị Thanh H1, sinh năm 1976. Vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 2000. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ, T1 giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 617 ngày 10/8/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đ - Sinh ngày 15/7/2003 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1975. Họ tên mẹ: Phạm Thị Hồng H2, sinh năm 1979. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ, T1 giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 616 ngày 10/8/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Họ và tên: Đồng Đức D1 - Sinh ngày 06/8/2002 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Đồng Văn T2, sinh năm 1974. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1981. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ, T1 giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 628 ngày 13/8/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 01/01/2024, tại quán ăn L thuộc tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội, Công an thị trấn S đang thực hiện kế hoạch tuần tra phòng chống pháo nổ dịp Tết Nguyên đán thì phát hiện Trịnh Đăng K, sinh năm 1999, trú tại thôn V, xã P, huyện S, Hà Nội có hành vi đốt pháo nổ và cất giấu nhiều pháo nổ trong cốp xe máy nhãn hiệu Honda SH, BKS: 29S6-739.75. Tổ công tác đã lập biên bản và tạm giữ: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 29S6-739.75; 104 (một trăm linh tư) quả hình trụ tròn màu đỏ; các mảnh giấy vụn màu đỏ; 03 (ba) khối hình trụ kích thước mỗi khối (10,5 x 10,5 x 09) cm, vỏ giấy màu vàng cam, ghi chữ “Công ty TNHH một thành viên H3; Giàn phun viên, loại đặc biệt năm 2023”, mỗi khối có 25 ống hình trụ tròn.
Quá trình điều tra làm rõ: Đầu tháng 12/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, Trịnh Đăng K sử dụng tài khoản Facebook “Trịnh Đăng K” đặt mua 100 quả pháo nổ (tên thường gọi là “pháo tép”, loại pháo hình trụ, quấn giấy màu đỏ, kích thước dài khoảng 05cm, đường kính 1,5cm, một đầu bịt kín, một đầu gắn 01 đoạn ngòi châm dài khoảng 03cm). Ngày 29/12/2023, tại khu vực gần cổng sân Golf thuộc thôn V, xã P, huyện S, Hà Nội, Trịnh Đăng K nhận từ 01 nam thanh niên không rõ danh tính 112 quả pháo nổ (trong đó K đặt mua 100 quả và được cho thêm 12 quả) và trả cho nam thanh niên đó 400.000 đồng tiền mặt. Sau khi nhận hàng, K cất pháo trong cốp xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 29S6-739.75 của mình.
Tối ngày 01/01/2024, K cùng Đồng Đức D1, sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã T, huyện S, Hà Nội đến quán L thuộc tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội để ăn uống. Quá trình ăn uống, nhóm của K có giao lưu với nhóm thanh niên ở bàn bên cạnh, trong đó có Đào Trường A, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã T, huyện S, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 2003, trú tại thôn P, xã P, huyện S, Hà Nội; Nguyễn Trường A1, sinh năm 1998, trú tại thôn P, xã P, huyện S, Hà Nội và Trần Đức D2, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, huyện S, Hà Nội. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Ngọc Đ đi lấy 03 hộp pháo hoa giàn phun do Bộ Q1 sản xuất mang đến quán lẩu N. Tại đây, Đ cùng Đào Trường A và Nguyễn Trường A1 đặt 03 hộp pháo hoa và đốt ở khu vực dưới lòng đường, trước cửa quán Lẩu Nhớ trước sự chứng kiến của nhóm bạn. Cùng thời điểm này, Trịnh Đăng K đi ra vị trí để xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 29S6-739.75 (trước cửa quán ăn L) để lấy 02 quả pháo nổ, trực tiếp đốt và ném xuống lòng đường, gây ra hai tiếng nổ lớn và để lại nhiều xác pháo màu đỏ. Đào Trường A thấy K đốt pháo nổ nên ra hỏi K, K tiếp tục đi ra mở cốp xe máy lấy 06 quả pháo nổ đưa cho Đào Trường A 04 quả nhưng Đào Trường A chỉ lấy 01 quả. K tiếp tục đưa cho Đ 02 quả pháo nổ, D1 02 quả pháo nổ để cùng đốt. Sau khi được cho pháo nổ, Đăng đốt 02 quả pháo nổ, Đào Trường A đốt 01 quả pháo nổ, D1 đốt 02 quả pháo nổ cùng ném xuống lòng đường trước quán L gây ra tiếng nổ lớn và để lại nhiều xác pháo màu đỏ. Riêng Trần Đức D2 có lấy 01 quả pháo nổ từ túi áo của K nhưng không đốt mà ném đi.
Bản Kết luận giám định số 436/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng Kl - Công an thành phố H kết luận:
- - 104 quả hình trụ tròn màu đỏ, kích thước mỗi quả cao 05 cm, đường kính 1,5cm, một đầu bịt kín, đầu còn lại gắn 01 đoạn dây đều là pháo nổ, tổng khối lượng 0,9kg.
- - Các mảnh giấy vụn màu đỏ đều là sản phẩm của pháo nổ đã qua sử dụng, khối lượng 86,64 gam.
- - 03 vỏ khối hình trụ kích thước mỗi khối (10,5 x 10,5 x 09) cm, vỏ ngoài màu vàng cam, ghi chữ: Công ty TNHH một thành viên H3, giàn phun viên, loại đặc biệt năm 2023 đều là vỏ của pháo hoa đã qua sử dụng, tổng khối lượng 1,24kg.
Bản Kết luận giám định số 1054/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Số khung, số máy xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mang BKS: 29S6-139.75 là số nguyên thủy.
Quá trình điều tra, Trịnh Đăng K, Đào Trường A, Nguyễn Ngọc Đ, Đồng Đức D1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Việc các bị cáo đốt pháo nổ là tự phát, không có sự bàn bạc từ trước.
Về vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 29S6-739.75; 104 (một trăm linh tư) quả hình trụ tròn màu đỏ; các mảnh giấy vụn màu đỏ; 03 (ba) khối hình trụ kích thước mỗi khối (10,5 x 10,5 x 09) cm, vỏ giấy màu vàng cam, ghi chữ “Công ty TNHH một thành viên H3; Giàn phun viên, loại đặc biệt năm 2023”, mỗi khối có 25 ống hình trụ tròn.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 29S6-739.75 thu giữ của Trịnh Đăng K: Quá trình điều tra, xác minh làm rõ là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Trịnh Đăng K, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S đã trả lại chiếc xe cho K.
Đối với Trần Đức D2 có mặt tại hiện trường nhưng không có hành vi hô hào, kích động, không trực tiếp tham gia đốt pháo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S không xem xét xử lý.
Đối với đối tượng bán pháo nổ cho Trịnh Đăng K thông qua mạng xã hội Facebook, quá trình điều tra do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- - Tại cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 25/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Trịnh Đăng K về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Đào Trường A, Nguyễn Ngọc Đ, Đồng Đức D1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-
- Đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố: Trịnh Đăng K, Đào Trường A, Nguyễn Ngọc Đ, Đồng Đức D1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 luật Hình sự; Xử phạt: Trịnh Đăng K với mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 luật Hình sự; Xử phạt:
- + Đào Trường A với mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Nguyễn Ngọc Đ với mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Đồng Đức D1 với mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016.
- + Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 104 (một trăm linh tư) quả hình trụ tròn màu đỏ; Các mảnh giấy vụn màu đỏ; 03 (ba) khối hình trụ kích thước mỗi khối (10,5 x 10,5 x 09) cm, vỏ giấy màu vàng cam, ghi chữ “Công ty TNHH một thành viên H3; Giàn phun viên, loại đặc biệt năm 2023”, mỗi khối có 25 ống hình trụ tròn.
- + Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2} Về nội dung vụ án : Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó xác định được: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 01 tháng 01 năm 2024, tại trước cửa quán L thuộc tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội, Trịnh Đăng K có hành vi đốt 02 quả pháo nổ và ném ra vị trí dưới lòng đường, đồng thời K xúi giục các đối tượng khác bằng cách cung cấp pháo nổ cho Đào Trường A, Đồng Đức D1, Nguyễn Ngọc Đ cùng đốt pháo nổ. Cụ thể: Đào Trường A đốt 01 quả pháo nổ, Đồng Đức D1 đốt 02 quả pháo nổ, Nguyễn Ngọc Đ đốt 01 quả pháo nổ và ném ra vị trí dưới lòng đường gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Vì vậy, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trịnh Đăng K đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Các bị cáo Đào Trường A, Đồng Đức D1, Nguyễn Ngọc Đ đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Bản cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trịnh Đăng K về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình; truy tố các bị cáo Đào Trường A, Đồng Đức D1, Nguyễn Ngọc Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song do coi thường kỷ cương xã hội, coi thường pháp luật của Nhà nước nên các bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Hành vi của các bị cáo như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm trật tự trị an xã hội mà còn xâm phạm nghiêm trọng các quan hệ xã hội trong lĩnh vực trật tự công cộng, gây tổn hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt với mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Vụ án có đồng phạm nhưng không có tổ chức vì không có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Trịnh Đăng K có vai trò chính nên phải chịu mức hình phạt cao nhất, các bị cáo Đào Trường A, Đồng Đức D1, Nguyễn Ngọc Đ có vai trò đồng phạm giản đơn.
{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng.
{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; các bị cáo Đào Trường A, Đồng Đức D1, Nguyễn Ngọc Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, nhưng cần cách ly bị cáo Trịnh Đăng K ra khởi đời sống xã một thời gian mới đủ sức răn đe và giáo dục. Cho các bị cáo Đào Trường A, Đồng Đức D1, Nguyễn Ngọc Đ được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, tạo điều kiện cho các bị cáo được tiếp tục lao động lương thiện trở thành công dân có ích, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
{3} Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 104 (một trăm linh tư) quả hình trụ tròn màu đỏ; Các mảnh giấy vụn màu đỏ; 03 (ba) khối hình trụ kích thước mỗi khối (10,5 x 10,5 x 09) cm, vỏ giấy màu vàng cam, ghi chữ “Công ty TNHH một thành viên H3; Giàn phun viên, loại đặc biệt năm 2023”, mỗi khối có 25 ống hình trụ tròn.
{4} Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.
{5} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
Các bị cáo Trịnh Đăng K, Đào Trường A, Đồng Đức D1, Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trịnh Đăng K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
- Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- + Đào Trường A 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
- + Đồng Đức D1 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
- + Nguyễn Ngọc Đ 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao Đào Trường A cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Giao Đồng Đức D1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Giao Nguyễn Ngọc Đ cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 104 (một trăm linh tư) quả hình trụ tròn, màu đỏ (đã được niêm phong); Các mảnh giấy vụn màu đỏ (đã được niêm phong); 03 (ba) khối hình trụ, kích thước mỗi khối (10,5 x 10,5 x 09) cm, có vỏ giấy màu vàng cam, ghi chữ “Công ty TNHH một thành viên H3; Giàn phun viên, loại đặc biệt năm 2023”, mỗi khối có 25 ống hình trụ tròn (đã được niêm phong).
- (Vật chứng đang được tạm giữ tại Công an huyện S).
- + Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai, sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Vân |
7
Bản án số 251/2024/HSST ngày 04/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 251/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 24 tháng tù
