TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 251/2024/HNGĐ-ST Ngày 23 - 9 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Hoàng Ảnh
Ông Lê Văn Chuộng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 371/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tạ Thị Ú, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trương Văn D, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/7/2024 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn bà Tạ Thị Ú trình bày:
Về hôn nhân: Bà Ú với ông Trương Văn D chung sống với nhau vào năm 2006, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân giữa bà với ông D hạnh phúc, thời gian sau giữa bà với ông D dần xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm giữa vợ chồng không thể hàn gắn được, dẫn đến ông bà đã ly thân nhiều năm nay. Nay, bà Ú yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trương Văn D.
Về con chung: Trương Trung T, sinh ngày 04/4/2001, đã trưởng thành và đang đi làm nên không yêu cầu giải quyết. Đối với Trương Tấn H, sinh ngày 10/9/2011,
hiện đang sống chung với ông D. Khi ly hôn bà đồng ý giao trẻ H cho ông D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; cấp dưỡng không đặt ra.
Về tài sản chung: Bà Ú không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Bà Ú xác định không.
- Đối với bị đơn ông Trương Văn D: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông D theo quy định pháp luật, nhưng ông D không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Ú.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Vào ngày 28/8/2024 bà Ú có đơn xin vắng mặt; ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng ông D vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt bà Ú và ông D.
[2] Về quan hệ hôn nhân. Bà Ú với ông D kết hôn vào năm 2006, ông bà đăng ký kết hôn ngày 29/8/2006 theo giấy chứng nhận số 73, quyển số 01/2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau, hôn nhân ông bà hợp pháp.
Xét bà Ú yêu cầu ly hôn với ông D thấy rằng, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông D nhiều lần để tham gia hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông D vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Ú. Ngoài ra, bà Ú xác định vợ chồng ông bà đã ly thân nhiều năm nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, tình trạng hôn nhân giữa bà Ú với ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Ú về việc ly hôn với ông D.
[3] Về nuôi con chung: Khi ly hôn bà Ú đồng ý giao trẻ Trương Tấn H, sinh ngày 10/9/2011 cho ông D nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “...nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, theo văn bản ghi nguyện vọng trẻ Hải ngày 28/8/2024, trẻ H có nguyện vọng ở với ông D nên giao trẻ H cho ông D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Bà Tạ Thị Ú có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông D chưa yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung: Bà Ú không yêu nên không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà Ú xác định không có.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà Ú phải chịu án phí 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị Ú.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Tạ Thị Ú ly hôn với ông Trương Văn D.
- Về nuôi con chung: Giao trẻ Trương Tấn H, sinh ngày 10/9/2011 cho ông Trương Văn D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Bà Tạ Thị Ú có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Tạ Thị Ú phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Ú đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001631 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà Ú đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Tạ Thị Ú và ông Trương Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Giang Nam |
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút, ngày 23 tháng 9 năm 2024
Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang N.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Ả và ông Lê Văn C
Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 371/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn giữa:
- Nguyên đơn: Bà Tạ Thị Ú, sinh năm 1983.
- Bị đơn: Ông Trương Văn D, sinh năm 1977.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
1/ Về điều luật căn cứ:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2, Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3 (100%)
2/ Xử:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị Ú.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Tạ Thị Ú ly hôn với ông Trương Văn D.
- Về nuôi con chung: Giao trẻ Trương Tấn H, sinh ngày 10/9/2011 cho ông Trương Văn D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Bà Tạ Thị Ú có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3 (100%)
3. Các vấn đề khác:
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Tạ Thị Ú phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Ú đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001631 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà Ú đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về kháng cáo: Bà Tạ Thị Ú và ông Trương Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3 (100%)
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 23 tháng 9 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 251/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 251/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị Út. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Tạ Thị Út ly hôn với ông Trương Văn Dũng. 2. Về nuôi con chung: Giao trẻ Trương Tấn Hải, sinh ngày 10/9/2011 cho ông Trương Văn Dũng trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Tạ Thị Út có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Tạ Thị Út phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Út đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001631 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà Út đã nộp đủ án phí. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Bà Tạ Thị Út và ông Trương Văn Dũng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
