Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG


Bản án số: 251/2024/DS-PT

Ngày: 24 - 10 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

Vay tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Lạc

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Hà

Ông Đặng Văn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Nhơn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 96/2024/DSST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 307/2024/QĐPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Tố C, sinh năm 1990 địa chỉ: Số C, Khóm T, phường T, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
  2. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1962, địa chỉ số A, Khóm T, phường T, TP V, tỉnh Vĩnh Long. ( Văn bản ủy quyền ngày 18/3/2024).

  3. Bị đơn: Anh Hồ Nhựt T1, sinh năm 1980 địa chỉ: A, Khóm C, phường I, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
  4. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn có anh Nguyễn Minh T2, sinh năm 1969, địa chỉ số A, đường N, phường A, TP V, tỉnh Vĩnh Long. (Văn bản ủy quyền ngày 04/5/2024).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Hồ Phúc M, sinh năm 1953 địa chỉ: A, Khóm C, phường I, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
    2. Bà Ngô Thị Huỳnh H, sinh năm 1957 địa chỉ: A, Khóm C, phường I, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

    Đại diện theo ủy quyền của ông M và bà H có anh Nguyễn Phước T3 sinh năm 1990, địa chỉ số C, Khóm T, phường T, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (Văn bản ủy quyền ngày 20/5/2024).

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024 và trong quá trình xét xử đại diện nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Do có quen biết anh Hồ Nhựt T1 qua việc kinh doanh, lúc anh T1 thiếu vốn để trả Ngân hàng nên chị C có cho anh T1 vay tiền, theo thỏa thuận chị C đồng ý cho anh T1 vay số tiền 1.900.000.000 đồng ( Một tỷ chín trăm triệu đồng), thời hạn vay là 30 ngày lãi suất thỏa thuận 3%/tháng để trả nợ Ngân hàng, khi vay tiền phía anh T1 sẽ giao cho chị C giữ 01 giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất 359, TBĐ số 47, tọa lạc Khóm C, phường I, TP V do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên QSD đất, ông M là cha ruột anh T1.

Vào ngày 04/9/2022 chị Hoàng Tố C mang tiền đến nhà ông Hồ Phúc M tại địa chỉ A, Khóm C, phường I, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long để giao tiền cho anh T1 như thỏa thuận, lúc chị C giao tiền cho anh T1 thì có mặt ông Hồ Phúc M chứng kiến và đồng ý cho anh T1 giao bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên cho chị C giữ, việc giao tiền thì anh T1 có tự tay viết giấy nhận nợ cùng ngày, ký tên ghi họ tên giao cho chị C giữ, sự việc này củng có bà Nguyễn Thị Bé B ký tên giấy nhận nợ là người chứng kiến. Quá thời gian vay tiền anh T1 không trả nợ nên chị Hoàng Tố C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Hồ Nhựt T1 và ông Hồ Phúc M trả cho chị Hoàng T4 Chuyên số tiền vay vốn gốc 1.900.000.000đ (Một tỷ chín trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 04/9/2022 đến ngày 04/03/2024, (18 tháng) lãi suất 1%/ tháng bằng số tiền 342.000.000 đồng. Tổng cộng vốn gốc và lãi là 2.242.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm bốn mươi hai triệu đồng). Và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.

Tại buổi hòa giải ngày 24/5/2024 và ngày 26/6/2024 nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện Chị Hoàng Tố C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Hồ Nhựt T1 trả cho chị Hoàng T4 Chuyên số tiền vay vốn gốc 1.900.000.000đ (Một tỷ chín trăm triệu đồng) và tiền lãi là 408.500.000 đồng. Tổng cộng vốn gốc và lãi là 2.308.500.000 đồng (Hai tỷ ba trăm lẽ tám triệu năm trăm nghìn đồng). Và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm. Đối với yêu cầu ông Hồ Phúc M cùng trả nợ vay với anh T1 thì chị Hoàng T4 Chuyên rút lại yêu cầu này.

Về nội dung dòng chữ: “Rút sổ A 359, tờ bản đồ 47, DT 84,6m²” trên giấy nhận nợ ngày 04/9/2022 nguyên đơn xác định không liên quan nội dung vay mượn tiền giữa chị C và anh T1 không biết ai viết thêm.

Về yêu cầu độc lập của ông M và bà H thì nguyên đơn có ý kiến giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất 359, TBĐ số 47, tọa lạc Khóm C, phường I, TP V do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên QSD đất thì khi cho anh T1 vay tiền thì anh T1 giao cho chị C giữ giấy chứng nhận nêu trên có mặt ông M chứng kiến đồng ý giao giấy cho C giữ, nhưng ông M không có ký tên vào giấy nhận nợ. Cho nên nguyên đơn vẫn bao lưu ý kiến khi nào anh T1 trả đủ tiền thì C trả lại cho anh T1 giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất 359, TBĐ số 47, tọa lạc Khóm C, phường I, TP V do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên QSD đất (bản gốc).

* Ý kiến của bị đơn do anh Nguyễn Minh T2 làm đại diện theo ủy quyền trình bày:

Anh Hồ Nhựt T1 thừa nhận có nợ chị Hoàng T4 Chuyên số tiền 1.900.000.000 đồng là đúng nhưng nguồn gốc số tiền này là do trước đây hai bên có quan hệ làm ăn qua lại T1 có vay tiền của C nhưng lãi suất cao nên không còn khả năng đóng tiền lãi nên ngày 04/9/2022 T1 mới năn nỉ Chuyên xin chốt lại nợ được C đồng ý nên hai bên mới làm giấy nhận nợ tổng cộng số tiền nợ là 1.900.000.000 đồng, lúc chốt nợ hai bên có thống nhất là cho T1 trả trong vòng 1 năm không tính lãi suất nữa. Từ khi chốt nợ thì T1 có vài lần chuyển tiền trả cho chị C nhưng chưa in sao kê được xin Tòa trong hạn 10 ngày sẽ cung cấp nếu không tìm được thì Thông đồng Ý trả C số tiền 1.900.000.000 tỷ đồng, còn tìm được thì đề nghị khấu trừ số tiền đã trả. Về lãi suất Chuyên yêu cầu thì bị đơn đồng ý trả 1% tháng tính từ ngày 04/9/2022. Về giấy chứng nhận QSD đất tên hộ Hồ Phúc M thì đó là QSD đất của bà Ngô Thị Huỳnh H và ông Hồ Phúc M do trước đây C và T1 có quan hệ làm ăn kinh doanh bất động sản nên khi giao cho C giữ những giấy chứng nhận QSD đất mà hai bên mua bán chung thì T1 giao luôn giấy chứng nhận của ông M mà không hay biết, chứ việc vay mượn tiền giữa C và T1 không có thỏa thuận nào giao giấy chứng nhận của ông M cho C giữ nên đề nghị C trả lại cho ông M giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất 359, TBĐ số 47, tọa lạc Khóm C, phường I, TP V do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên QSD đất (bản gốc).

Tại biên bản hòa giải ngày 26/6/2024 phía anh T1 đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý trả số tiền vay vốn gốc 1.900.000.000đ (Một tỷ chín trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 04/9/2022 đến ngày 19/6/2024, (21,5 tháng) lãi suất 1%/ tháng bằng số tiền 408.500.000 đồng. Tổng cộng vốn gốc và lãi là 2.308.500.000 đồng. Riêng về giấy chứng nhận QSD đất tên ông M thì T1 giao nhầm giấy chứng nhận của ông M mà không hay biết, chứ việc vay mượn tiền giữa C và T1 không có thỏa thuận nào giao giấy chứng nhận của ông M cho C giữ nên đề nghị C trả lại cho ông M giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất 359, TBĐ số 47, tọa lạc Khóm C, phường I, TP V do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên QSD đất (bản gốc). Việc giao nhận tiền vay 1.900.000.000 đồng thì C giao Thông tại nhà của T1 không có mặt ai nữa, việc nguyên đơn trình bày giao tiền ở nhà ông M là không đúng. Về yêu cầu độc lập của ông M và bà H thì bị đơn thống nhất ý kiến đề nghị C giao trả lại giấy chúng nhận cho ông, bà.

Về nội dung dòng chữ: “ Rút sổ A 359, tờ bản đồ 47, DT 84,6m²” bị đơn xác định không liên quan nội dung vay mượn tiền giữa C và T1 không biết ai viết thêm không phải chữ viết của bị đơn.

* Ý kiến trình bày của bà Ngô Thị Huỳnh H: Bà là vợ ông M là mẹ ruột của anh T1 bà có biết việc C kiện T1 về tiền vay, phía chị C cho rằng T1 có giao cho C giữ QSD đất là tài sản của bà và ông M (do ông M đứng tên). Ông M bị tai biến không tự đi đứng được nên làm sao vay tiền của C nên ý kiến ông M không đồng ý yêu cầu khởi kiện của C vì ông M không có nợ tiền của C, đề nghị Chuyên trả lại QSD đất cho ông M.

* Ý kiến của Bà H, ông M do anh Nguyễn Phước Triều đại D theo ủy quyền trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị C yêu cầu anh T1 trả tiền vay thì ông M, bà H không ý kiến. Về giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất 359, TBĐ số 47, tọa lạc Khóm C, phường I, TP V do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên QSD đất do không liên quan việc T1 vay tiền của C nên ông M, bà H vẫn giữ yêu cầu độc lập yêu cầu chị Hoàng T4 Chuyên trả lại cho ông, bà bản gốc giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất 359, TBĐ số 47, tọa lạc Khóm C, phường I, TP V do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên QSD đất. Việc C đến nhà ông M giao tiền nhận giấy chứng nhận QSD đất ngày 04/9/2022 là không có vì khi đó ông M bệnh nằm một chổ không đi đứng được cần có người chăm sóc, bà H luôn chăm sóc ông M bà xác định trước giờ C không có lại nhà ông, bà lần nào.

* Ý kiến trình bày của người làm chứng bà Nguyễn Thị Bé B: Bà B và chị Hoàng Tố C, anh Hồ Nhựt T1 là bạn bè làm ăn quen biết nhau. Trước ngày 04/9/2022 chị C kẹt tiền làm ăn nên có hỏi bà B vay số tiền 1.900.000.000 đồng nói là vay tiền của bà về cho anh T1 vay lại nên ngày 04/9/2022 bà B có mang tiền mặt số tiền 1.900.000.000 đồng đến nhà C để giao tiền cho C để C giao cho anh T1. Khi đến nhà C thì C đưa cho bà giấy nhận nợ ngày 04/9/2022 có sẵn chữ ký tên ghi họ tên của C và T1 rồi nhờ bà B ký tên người chứng kiến, bà biết sự việc vay tiền này nên có ký tên ghi họ tên người chứng kiến, khi ký tên có bà và C, bà không biết ông Hồ Phúc M chỉ nghe C nói là cha ruột của T1. Do bà cho C vay tiền nên giấy chứng nhận QSD đất tên Hồ Phúc M thì C giao cho bà giữ, sau đó, C đã trả tiền cho bà rồi nên bà trả lại giấy chứng nhận QSD đất cho C để C giải quyết với T1. Bà chỉ biết sự việc có bao nhiêu bà cam đơn lời khai của bà là sự thật.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 96/2024/DSST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 166, 463, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 2, 6 và Khoản 7 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Tố C đối với anh Hồ Nhựt T1.
  2. Buộc anh Hồ Nhựt T1 có trách nhiệm trả cho chị Hoàng T4 Chuyên số tiền là 2.327.500.000 đồng (Hai tỷ ba trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm nghìn đồng). (Trong đó, vốn gốc là 1.900.000.000 đồng, tiền lãi là 427.500.000 đồng).
  3. Kể từ ngày người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo Khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015.

  4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Hồ Phúc M và bà Ngô Thị Huỳnh H. Buộc chị Hoàng Tố C có trách nhiệm trả lại cho ông Hồ Phúc M và bà Ngô Thị Huỳnh H bản gốc giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất 359, TBĐ số 47, tọa lạc Khóm C, phường I, TP V được Ủy ban nhân dân Thành phố V cấp ngày 23/9/2020 do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên QSD đất.
  5. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Tố C đối với việc chị C yêu cầu ông Hồ Phúc M có trách nhiệm cùng anh Hồ Nhựt T1 trả cho chị C số nợ vay do chị Hoàng T4 Chuyên rút lại yêu cầu này.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Buộc anh Hồ Nhựt T1 phải nộp số tiền 39.275.000 đồng (Ba mươi chín triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Buộc chị Hoàng Tố C phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 38.420.000 đồng (Ba mươi tám triệu bốn trăm hai chục nghìn đồng) theo biên lai thu số: No 0006724 ngày 02/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Vậy chị Hoàng Tố C còn nhận lại số tiền 38.120.000 đồng (Ba mươi tám triệu một trăm hai chục nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Ngày 14/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Vĩnh Long ban hành kháng nghị số 10/QĐ - VKS - DS kháng nghị đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DSST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Bản án sơ thẩm nhận định do nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận được số nợ vay vốn gốc và tiền lãi trước khi Tòa án mổ phiên tòa cho nên anh Hồ Nhựt T1 phải chịu 50% án phí và buộc anh T1 nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 39.275.000đ là không đúng theo quy định của pháp luật gây thất thoát cho ngân sách nhà nước. Tại khoản 8 Điều 26 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án quy định: “Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó...”. Do đó anh T1 phải nộp 78.550.000đ án phí dân sự sơ thẩm mới đúng theo quy định. Từ những phân tích trên cho thấy cấp sơ thẩm đã vi phạm trong việc áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án dân đến buộc đương sự nộp không đúng. Vì vậy đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án về phần án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long trình bày nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V và giữ nguyên kháng nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.

* Xét kháng nghị của Viện trưởng VKSND thành phố V nhận thấy:

Bản án tuyên “Buộc anh Hồ Nhựt T1 có trách nhiệm trả cho chị Hoàng Tố C số tiền là 2.327.500.000 đồng” nhưng về án phí dân sự sơ thẩm Bản án nhận định “Căn cứ Khoản 7 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án do nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận được số nợ vay vốn gốc và tiền lãi trước khi Tòa án mở phiên tòa cho nên anh Hồ Nhựt T1 phải chịu 50% mức án phí cụ thể được tính như sau: 2.327.500.000 đồng = (72 triệu đồng + 2% x 327.500.000 đồng) x ½ = 39.275.000 đồng (Ba mươi chín triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)” là không đúng với quy định của pháp luật. Bởi vì, trong quá trình giải quyết vụ án và các lần hòa giải tại Tòa án, cùng với biên bản hòa giải ngày 26/6/2024 ông T2 đại diện bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 2.308.500.000 đồng theo như nguyên đơn yêu cầu, nhưng ông M bà H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu nguyên đơn trả cho ông M bà H bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 359, tờ bản đồ số 47, tọa lạc K, phường I, TP V do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn không đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 359 cho ông M bà H thể hiện tại BL 66-67, các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử số 479/2024/QĐST-DS ngày 19/7/2014 và mở phiên tòa xét xử ngày 31/7/2024, nên đây không phải là sự thỏa thuận của các đương sự trước khi mở phiên tòa.

Như vậy, Bản án nhận định “Do nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận được số nợ vay vốn gốc và tiền lãi trước khi Tòa án mở phiên tòa cho nên anh Hồ Nhựt T1 phải chịu 50% mức án phí” và “buộc anh T1 nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 39.275.000 đồng” là không đúng quy định của pháp luật và gây thất thoát cho Ngân sách Nhà nước. Tại khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án quy định: “Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó...”.

Do đó, ông T1 phải nộp 78.550.000 đồng (Bảy mươi tám triệu năm trăm năm chục ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm mới đúng quy định tại khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật TTDS; Điều 29 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng áp phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long về phần án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bị đơn Hồ Nhựt T1 nộp án phí dân sự sơ thẩm là 78.550.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Ngày 31/7/2024 Tòa án nhân dân Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tuyên án sơ thẩm. Ngày 14/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố V ban hành kháng nghị số 10/QĐ - VKS – DS kháng nghị đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DSST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là còn trong thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 280 và được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm được qui định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số tiền vay vốn gốc là 1.900.000.000₫ và tiền lãi là 427.500.000đ. Tổng cộng vốn và lãi là 2.327.500.000đ. Khi vay phía bị đơn anh T1 có giao cho nguyên đơn chị C giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 359 tờ bản đồ số 47 tọa lạc tại khóm C, phường I, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông M là cha ruột bị đơn anh T1. Khi giao tiền và giao giấy chứng nhận có mặt ông M.

Tại cấp sơ thẩm nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn trả nợ vay, không yêu cầu ông M cùng trả với bị đơn. Bị đơn thống nhất số tiền vốn vay và lãi suất vay và đồng ý trả theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với yêu cầu độc lập của ông M và bà H: ông bà yêu cầu nguyên đơn trả bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 359 tờ bản đồ số 47 tọa lạc tại khóm C, phường I, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Nhận thấy tại cấp sơ thẩm nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ vay và lãi suất, bị đơn thống nhất và đồng ý trả. Đó chỉ mới thỏa thuận được một phần nội dung vụ án. Ông M bà H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu nguyên đơn trả bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 359, tờ bản đồ số 47, tọa lạc K, phường I, TP V do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn không đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 359 cho ông M bà H khi bị đơn chưa trả nợ xong. Các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án. Nhưng cấp sơ thẩm nhận định: “Do nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận được số nợ vay vốn gốc và tiền lãi trước khi Tòa án mở phiên tòa cho nên anh Hồ Nhựt T1 phải chịu 50% mức án phí” và “buộc anh T1 nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 39.275.000 đồng” là không đúng quy định của pháp luật khi giải quyết vụ án về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do đó, cần sửa án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm cho đúng quy định pháp luật. Buộc bị đơn Hồ Nhựt T1 phải chịu án phí có giá ngạch là: 2.327.500.000₫ = (72.000.000đ + 2% x 327.500.000₫) = 78.550.000₫.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là có căn cứ.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long là phù hợp với nhận định.

[3] Về án phí:

  • Về án phí dân sự sơ thẩm: do sửa án nên án phí sơ thẩm được tính lại như sau:
  • Buộc bị đơn Hồ Nhựt T1 phải chịu án phí có giá ngạch: (72.000.000đ + 2% x 327.500.000₫) = 78.550.000đ.

  • Về án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 96/2024/DSST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 166, 463, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 2, 6 và Khoản 8 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Tố C đối với việc chị C yêu cầu ông Hồ Phúc M có trách nhiệm cùng anh Hồ Nhựt T1 trả cho chị C số nợ vay do chị Hoàng T4 Chuyên rút lại yêu cầu này.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Tố C đối với anh Hồ Nhựt T1.
  3. Buộc anh Hồ Nhựt T1 có trách nhiệm trả cho chị Hoàng T4 Chuyên số tiền là 2.327.500.000 đồng (Hai tỷ ba trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm nghìn đồng). (Trong đó, vốn gốc là 1.900.000.000 đồng, tiền lãi là 427.500.000 đồng).
  4. Kể từ ngày người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo Khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015.

  5. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Hồ Phúc M và bà Ngô Thị Huỳnh H. Buộc chị Hoàng Tố C có trách nhiệm trả lại cho ông Hồ Phúc M và bà Ngô Thị Huỳnh H bản gốc giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất 359, TBĐ số 47, tọa lạc Khóm C, phường I, TP V được Ủy ban nhân dân Thành phố V cấp ngày 23/9/2020 do hộ ông Hồ Phúc M đứng tên QSD đất.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Buộc anh Hồ Nhựt T1 phải nộp số tiền 78.550.000 đồng (bảy mươi tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Buộc chị Hoàng Tố C phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 38.420.000 đồng (Ba mươi tám triệu bốn trăm hai chục nghìn đồng) theo biên lai thu số: No 0006724 ngày 02/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Vậy chị Hoàng Tố C còn nhận lại số tiền 38.120.000 đồng (Ba mươi tám triệu một trăm hai chục nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

    Về án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

  7. [6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - CA: 01;
  • - TACC: 01;
  • - VKSND TVL: 02;
  • - TAND TPVL: 01;
  • - VKSND TPVL: 01;
  • - Chi Cục THADS TPVL: 01;
  • - Mỗi đương sự: 01;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Lạc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 251/2024/DS-PT ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 251/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn hoàng tố chuyên - hồ nhựt thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger