|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 251/2024/DS-PT Ngày 30 - 9 - 2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
- Các thẩm phán: Ông Lê Quang Tấn
- Ông Trần Bá Kha
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn C - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 tháng 12 năm 2023 và ngày 29 tháng 02, ngày 09 tháng 9, ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2023/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2023/QĐPT-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Phạm Văn V, sinh năm 1957 (vắng mặt).
- Bà Đỗ Thị Kim T, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông V, bà T: Ông Phạm Thế A, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ B, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:
Luật sư Phương Văn T1, Luật sư Huỳnh N – Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: A H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt ngày 30/9/2024).
- Bị đơn:
- Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1966 ( vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966 (vắng mặt).
Cùng hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp R, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà Đ: Anh Đỗ Minh K, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, ấp R, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Võ Quang T2 - Văn phòng L2, thuộc đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: B đường C, khu phố A, phường D, thành phố P (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1955; địa chỉ: ấp R, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn V và bà Đỗ Thị Kim T - nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 16/01/2020, nguyên đơn là ông Phạm Văn V và bà Đỗ Thị Kim T trình bày:
Diện tích 9.319m²; thửa đất số 17; tờ bản đồ số 18; tọa lạc tại ấp R, xã G, huyện P, tỉnh Kiên Giang mà hiện nay ông Đỗ Văn H đang sử dụng, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc do gia đình ông bà khai khẩn vào năm 1996 -1997. Sau khi khai khẩn ông, bà canh tác trồng tràm bông vàng, cây lâu năm và có đào một cái ao nuôi cá, đồng thời ông, bà có thuê xe cơ giới và nhân công đào ao. Ông, bà quản lý sử dụng đến năm 2002 thì xảy ra tranh chấp với ông Nguyễn Văn S, sự việc tranh chấp được Ban N1, nhưng chưa dứt điểm. Đến ngày 30/5/2002 ông Nguyễn Văn S tự động cho nhân công của ông là ông Đỗ Văn H cất một căn nhà tạm cóa chiều ngang 03m, chiều dài 04m bằng cây gỗ.
Đến ngày 25/6/2002, UBND xã G lập biên bản vi phạm đối với ông Đỗ Văn H, buộc ông H di dời nhà cửa ra khỏi thửa đất và Ủy ban nhân dân (UBND) xã G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 232/QĐ-UB ngày 25/6/2002 về hành vi bao chiếm đất đai và ông Đỗ Văn H cũng cam kết hết năm 2002 sẽ di dời nhà ra khỏi thửa đất trên, nhưng ông H không thực hiện đúng theo tờ cam kết mà tiếp tục ở trên thửa đất này và tự ý kê khai đứng tên trên thửa đất nói trên.
Khi phát hiện ông gửi đơn tranh chấp với ông Đỗ Văn H đến UBND xã G để được giải quyết. Vào ngày 05/02/2015, UBND xã G có mời vợ chồng ông, bà và vợ chồng ông Đỗ Văn H đến hòa giải, nhưng hai bên không đi đến thống nhất nên UBND xã G hòa giải không thành. Theo biên bản đo đạc hiện trạng tranh chấp đất đai, diện tích thực tế hai bên đang tranh chấp là 8.834,22m².
Nay ông bà làm đơn khởi kiện này yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc vợ chồng ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Đ giao trả thửa đất diện tích có 8.834,22m²; thuộc thửa đất số 17; tờ bản đồ số 18; tọa lạc tại ấp R, xã G, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang cho vợ chồng ông bà.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Thế A trình bày: Ông Phạm Văn V và bà Đỗ Thị Kim T yêu cầu ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Đ giao trả lại diện tích theo đo đạc thực tế hiện nay là 8.906,3m²; ông V và bà T sẽ hỗ trợ cho ông H và bà Đ số tiền là 600.000.000 đồng.
* Tại đơn trình bày ý kiến ngày 09/8/2020 và đơn yêu cầu phản tố của bị đơn là ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Đầu năm 1998, vợ chồng ông bà được ông Nguyễn Văn S, ngụ cùng ấpRạch Vẹm, xã G làm giấy tay cho ông một khu đất tại tổ A, ấp R, xã G. Hiện trạng lúc này là đất đồng trống chưa có cây trồng nên ông S mới cho ông canh tác trồng tiêu, đào, xoài và tràm bông vàng, đến năm 2000 ông, bà cất nhà ở ổn định. Năm 2002, ông bà bị UBND xã G lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai do cất nhà ở và trồng cây trên đất quy hoạch là đồng cỏ chăn nuôi của xã G. Đến ngày 25/6/2002, UBND xã G ký Quyết định số 232/QĐ-UB đình chỉ việc khai phá đất và cất nhà ở và yêu cầu ông, bà di dời nhà, nhưng do không còn nơi ở nào khác nên gia đình ông bà vẫn tiếp tục ở sử dụng, canh tác phần đất này. Năm 2004, bị UBND huyện P thu hồi theo Quyết định số 2563/QĐ-UB, ngày 30/7/2004 do lấn chiếm đất Nhà nước đang quản lý với diện tích là 1.740m². Tại thời điểm thu hồi, ông bà đang sử dụng đất và cây trồng từ năm 1998 đã phát triển tốt, trên đất có 300 bụi tiêu đang cho thu hoạch (có biên bản 08/BB-KT, 2005 của UBND xã G).
Từ khi bị thu hồi thì gia đình ông, bà vẫn ở và trực tiếp quản lý, sử dụng cho đến nay là phù hợp với quy định về đất đai do có các giấy tờ chứng minh nguồn gốc sử dụng đất trước ngày 01/7/2004 và có thành quả lao động. Theo như ông, bà được biết hiện nay, UBND huyện P (nay là thành phó P) cũng đã thực hiện việc cấp giấy chứng nhận cho các trường hợp sử dụng đất tương tự như gia đình ông, bà.
Thực tế khu đất gia đình ông, bà đang ở và canh tác mà ông Phạm Văn V và bà Đỗ Kim T tranh chấp với gia đình ông, bà là rất vô lý. Khu đất này không liên quan gì đến ông V và bà T. Tại biên bản hòasố 75/BB-HGTCĐĐ, ngày 30/11/2016 của UBND xã G cho rằng vợ chồng ông V đào ao nuôi cá là không đúng thực tế, báo cáo kết quả xác minh là không chính xác và thiếu khách quan. Thực tế vị trí đất vợ chồng ông V đào ao nuôi cá là nằm trên khu đất của gia đình ông V giáp với khu đất của gia đình ông bà và vợ chồng ông V cũng đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác và không còn ở địa phương. Trong biên bản hòa giải, ông V1 có trình bày năm 2002, gia đình ông, bà đến bao chiếm đất và gia đình ông V có đơn tranh chấp đất đai là không đúng thực tế. Việc xảy ra tranh chấp giữa vợ chồng ông, bà và gia đình ông V là vào năm 2016 được UBND xã G hòa giải và được Tòa án thụ lý vào năm 2017 nhưng sau đó đến năm 2018 thì vợ chồng ông V rút đơn khởi kiện về việc tranh chấp đất đai và được Tòa án đình chỉ. Nên đến năm 2019 gia đình ông, bà đăng ký hồ sơ đo đạc để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo đạc thuộc thửa đất số 17, tờ 18, diện tích 10.257,1m² (có mô tả và trích đo địa chính kèm theo). Nhưng đến nay gia đình ông V lại tiếp tục gửi đơn tranh chấp gây nhiều khó khăn cho gia đình ông, bà trong việc sử dụng đất làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp, chính đáng của vợ chồng ông, bà.
Vì vậy, với tư cách là bị đơn, ông, bà yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Yêu cầu Tòa án bác toàn bộ nội dung đơn khởi kiệntranh chấp quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn V và bà Đỗ Kim T.
- Yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là8.906,3m²; tại tổ A, ấp R, xã G cho vợ chồng ông, bà để gia đình ông, bà làm thủ tục hồ sơ cấp giấy chứng nhận và yên tâm canh tác, sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh Đỗ Minh K trình bày: Ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Đ không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và giữ nguyên yêu cầu phản tố nêu trên.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/7/2022 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn S trình bày:
Từ năm 1975 đến năm 1990 ông cư trú tại ấp K, xã C, từ năm 1990 đến nay ông sinh sống tại tổ A, ấp R, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Theo tờ trích đo địa chính thửa đất đang tranh chấp số TĐ 97 ngày 28/4/2021 mà Tòa án đưa cho ông xem thì ông xác định diện tích đất này trước đây là do ông khai khẩn từ năm 1990; vào thời điểm ông khai khẩn thửa đất này chưa có ai canh tác, sử dụng, hiện trạng là đất rừng chồi, diện tích khai phá là khoảng 10ha để trồng tràm bông vàng, cây sao; giống cây là do ông mua lại của người khác để trồng.
Đến năm 2002 ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Đ từ quê ở miệt thứ qua P làm vườn tiêu cho ông. Thấy ông H, bà Đ không có đất nên ông cho ông H, bà Đ diện tích đất khoảng 9.000m² để canh tác. Theo tờ trích đo địa chính đất đang tranh chấp số TĐ 97 ngày 28/4/2021 thì thửa đất đang tranh chấp diện tích là 8.906,3m² chính là diện tích đất ông cho ông H, bà Đ canh tác trước đây.
Khi khai khẩn diện tích đất này ông không có giấy tờ khai khẩn đất, khi canh tác cũng không có ai đứng ra tranh chấp. Tuy nhiên vào tháng 4/2002 thì UBND xã G có lập biên bản ông về hành vi bao chiếm đất nhà nước, sau đó đến cuối năm 2002 thì ông mới cho ông H, bà Đ diện tích đất này để canh tác sử dụng. Khi cho ông H, bà Đ thì ông đã rào hàng rào, khi cho đất ông có làm giấy tay, giấy viết và ký năm nào thì ông không nhớ, giấy này hiện hay ông H, bà Đ đang giữ.
Theo giấy cho đất ngày 12/2/1998 bản photo mà Tòa án cho ông xem thì ông xác định chữ ký và chữ viết họ tên trong giấy cho đất này là chữ ký và chữ viết họ tên của ông. Đây là giấy ông ký cho đất ông H, bà Đ mà ông trình bày nêu trên. Lý do gì giấy cho đất ghi ngày 12/2/1998 chứ không phải năm 2002 thì ông không nhớ, giấy cho đất này do ai viết thì ông không biết, giấy này là do ông H đưa cho ông ký, giấy này ký vào năm nào ông cũng không nhớ.
Nay diện tích đất này ông đã cho ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Đ từ năm 2002 ông không còn sử dụng nữa, nay ông không có ý kiến hoặc yêu cầu gì đối với diện tích đất tranh chấp này. Ông không có ý kiến và yêu cầu gì trong vụ án này nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt ông.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn V, bà Đỗ Thị Kim T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 8.906,3m²; tại ấp R, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang với ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Đ.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Đ.
- Công nhận ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất 8.906,3m² tại ấp R, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Theo Tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số 97 - 2021 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P ngày 28/4/2021 thì diện tích đất 8.906,3m² gồm các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16.
- Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, án phí và báo quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 30/6/2023 ông Phạm Văn V và bà Đỗ Thị Kim T có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử như sau:
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận phần đất diện tích 8.906,3m² tọa lạc tại ấp R, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho ông V, bà Thanh quản L, sử dụng. Bên ông V, bà T3 tự nguyện bồi hoàn tiền hoa màu, công trình xây dựng trên đất cho bị đơn theo chứng thư thẩm định giá tài sản làm tròn là 300.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự có ý kiến trình bày như sau:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Phạm Thế A và những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm xử hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, với lý do là cấp sơ thẩm đã vi phạm về thủ tục tố tụng và nội dung.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh Đỗ Minh K và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm sự số 37/2023/DS-ST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn, áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, lý do là cấp sơ thẩm vi phạm về thủ tục tố tụng, đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chưa xác minh thu thập đầy đủ chứng cứ trong vụ án.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn V, bà Đỗ Thị Kim T về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Xét về tố tụng: Cấp sơ thẩm đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cụ thể là vợ chồng anh Đỗ Minh K (anh K là con ruột của bị đơn ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Đ), vợ anh K tên Lê Lệ H1 và các con của anh K, chị H1. Vì hiện tại vợ chồng anh K và các con anh K, chị H1 đang sinh sống trong căn nhà cất trên phần đất đang tranh chấp giữa ông V và ông H; Không đưa UBND xã Gành Dầu vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ thêm nguồn gốc diện tích đất tranh chấp và quá trình sử dụng đất của các đương sự là có thiếu sót.
- [3] Xét về nội dung:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và theo văn bản số 137/UBND ngày 01/11/2021 của UBND xã G, thành phố P thì diện tích đất tranh chấp 8.906,3m² có nguồn gốc như sau:
Nguồn gốc đất trước năm 1996 là đất cây rừng chòi tự nhiên, năm 1996 ông Phạm Văn V khai khẩn trồng cây, đến ngày 14/4/2002 thì xảy ra tranh chấp đất do ông Nguyễn Văn S làm hàng rào vào đất ông V. Ban N1 lập biên bản hiện trường và yêu cầu các bên tạm thời đình chỉ chờ UBND xã giải quyết. Đến ngày 16/4/2002 UBND xã G lập biên bản về việc tự ý bao chiếm đất đai trái phép đối với ông S, cũng trong ngày 16/4/2002 UBND xã G ra Quyết định đình chỉ về việc làm hàng rào và bao chiếm đất trái phép đối với đối với ông Nguyễn Văn S và Quyết định đình chỉ bao chiếm đất đai trái phép đối với ông Phạm Văn V. Do ông V không có ở trên phần đất tranh chấp, nên đến ngày 30/5/2002 ông Nguyễn Văn S cho ông Đỗ Văn H cất dựng nhà tạm trên đất để ở, ông V có trình báo với UBND xã G. Ngày 16/6/2002 và ngày 25/6/2002 UBND xã G có lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Đỗ Văn H. Ngày 25/6/2002 UBND xã G ban hành Quyết định đình chỉ việc bao chiếm đất đai cất dựng nhà ở trái phép đối với ông Đỗ Văn H và buộc ông H phải có trách nhiệm di dời nhà trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận quyết định. Ông V biết quá thời hạn 15 ngày nhưng ông H không di dời nhà, nên đến ngày 15/7/2002 ông V gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất, quá trình giải quyết UBND xã đã xác minh thu thập hồ sơ nhưng chưa hòa giải được. Năm 2004 ông H lấn chiếm đất rừng, nên ngày 30/7/2004 UBND huyện P có ban hành Quyết định số 2563/QĐ-UB thu hồi diện tích đất rừng 1.740m² ông H đã lấn chiếm giao cho Vườn Quốc G huyện P quản lý. Ngày 15/9/2005, UBND xã G lập biên bản thu hồi diện tích đất rừng 1.740m² bàn giao cho Vườn Quốc G quản lý.
Ngày 12/10/2005, ông H tiếp tục có hành vi lấn chiếm 720m² đất rừng nên Hạt kiểm lâm V2 biên bản vi phạm hành chính, ngày 10/11/2005 Hạt trưởng Hạt kiểm lâm V3 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ông H với số tiền là 1.050.000 đồng. Diện tích đất còn lại 8.906,3m² ông H vẫn tiếp tục sử dụng, đến năm 2013 ông V tiếp tục gửi đơn tranh chấp đất, UBND xã G đã tổ chức hòa giải nhưng không thành, ông H vẫn tiếp tục sử dụng đất và cất sửa lại nhà thành nhà cấp 4 và sử dụng cho đến nay. Ngày 25/11/2019 ông H được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P (nay là thành phố P) lập Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất với diện tích 10.257,1m².
Theo tờ trích đo địa chính thửa đất đang tranh chấp số 97- 2021 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P ngày 28/4/2021 thì tổng diện tích đất ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Đ đang sử dụng là 9.319,5m², trong đó diện tích đất tranh chấp là 8.906,3m², diện tích không tranh chấp là 413,2m² hiện nay do Vườn Quốc Gia P quản lý.
Theo văn bản số 137/UBND ngày 01/11/2021 của UBND xã G, huyện P thì diện tích đất tranh chấp là 8.906,3m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân nào; theo Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 thì diện tích đất trên đủ điều kiện xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xác minh thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ việc ông S1 với tư cách gì mà lấy phần đất của ông V khai khẩn tặng cho ông H.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án đến nay ông Phạm Văn V và bà Đỗ Thị Kim T không xác định được diện tích đất của ông, bà sử dụng chiều ngang và chiều dài của các cạnh là bao nhiêu mét, nên chưa có cơ sở để xem xét yêu cầu của nguyên đơn.
Ngoài ra, sau khi thụ lý phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì các đương sự có yêu cầu cấp phúc thẩm hoãn phiên tòa để xem xét, thẩm định tại chỗ lại phần đất tranh chấp và Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ lại thì được biết sau khi xét xử sơ thẩm, đang chờ xét xử phúc thẩm thì gia đình phía bị đơn có cất thêm một căn nhà trên phần đất đang tranh chấp nói trên (đây là tình tiết mới) được thể hiện tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Do đó, cấp phúc thẩm không thể xem xét giải quyết được, nếu giải quyết ở cấp phúc thẩm sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, nên cần hủy Bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ về cho Tòa sơ thẩm xem xét giải quyết lại vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
- [4] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn V và bà Đỗ Kim T và yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm cầu cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.
- [5] Từ những nhận định trên, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông V, chấp nhận ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- [6] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét lại khi giải quyết lại vụ án.
- [7] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Phạm Văn V không phải chịu án phí phúc thẩm, do kháng cáo của ông V và bà T được chấp nhận.
Hoàn trả cho ông Phạm Văn V số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0009318 ngày 06/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (do Nguyễn Đăng K1 nộp thay).
Hoàn trả cho bà Đỗ Thị Kim T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0009317 ngày 06/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (do Nguyễn Đăng K1 nộp thay).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 37/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét lại khi giải quyết lại vụ án.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Phạm Văn V và bà Đỗ Thị Kim T không phải chịu án phí phúc thẩm, do kháng cáo của ông V, bà T được chấp nhận.
Hoàn trả cho ông Phạm Văn V số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0009318 ngày 06/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (do Nguyễn Đăng K1 nộp thay).
Hoàn trả cho bà Đỗ Thị Kim T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0009317 ngày 06/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (do Nguyễn Đăng K1 nộp thay).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiên |
Bản án số 251/2024/DS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 251/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông V tranh chấp quyền sử dụng đất
