Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 251/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Thảo

Các Hội thẩm nhân dân.

  • - Bà Vương Ngọc Anh Đài – Bí thư chi đoàn ường"Trường THCS Lê Quý Đôn;
  • - Bà Minh Trân Mlô – Bí thư Đoàn phường Thới Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 240/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hữu T (tên gọi khác: Tài N), sinh ngày 01/10/2006, tại thành phố Hải Phòng; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Không chỗ ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độc học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T1 (đã chết) và bà Phạm Thị H, sinh năm 1986; Bị cáo có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Lê Nhật T2 (tên gọi khác: B), sinh ngày 30/10/2009; tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độc học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trung T3, sinh năm 1989 và bà Lê Thụy Phương U, sinh năm 1991; Bị cáo có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/4/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hữu T: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1986; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Hữu T: Ông Nguyễn Tiến D – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Nhật T2: Bà Lê Thụy Phương U, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Người bào chữa của bị cáo Lê Nhật T2: Ông Bùi Duy H1 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

- Bị hại: Cháu Nguyễn Hoài N1, sinh ngày 23/8/2011; Hộ khẩu thường trú: ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hoài N1: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; chỗ ở: ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Hoài N1: Ông Trần Thanh A – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Thụy Phương U, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1997; địa chỉ: khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Nhật T4, sinh ngày 08/3/2008; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Nhật T4: Ông Nguyễn Nhật Đ1, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

  1. Nguyễn Huỳnh Vũ K, sinh ngày 10/01/2008; địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  2. Bùi Duy L, sinh ngày 06/02/2010; địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  3. Nguyễn Hoàng D1, sinh ngày 06/3/2008; địa chỉ: Ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Đại diện Đoàn thanh niên xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương: Bà Bùi Võ Việt H3 – Bí thư Đoàn xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T2, Nguyễn Nhật T4, Nguyễn Huỳnh Vũ KNguyễn Hoài N1 (sinh ngày 23/8/2011, nơi thường trú: Tổ B, ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang) là bạn bè quen biết với nhau.

Chiều ngày 22/3/2024, T, Lê Nhật T2, Nguyễn Nhật T4, Nguyễn Huỳnh Vũ K đến quán nước “Bà N2” thuộc ấp B, xã P, thành phố B uống nước thì gặp N1 cũng đang ngồi uống nước với bạn là Bùi Duy L (sinh năm 2010, nơi thường trú: xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Yên) và Nguyễn Hoàng D1 (sinh năm 2008, nơi thường trú: ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương) nên nhóm của T đến ngồi cùng bàn với nhóm của N1. Trong lúc ngồi uống nước, T nhìn thấy N1 sử dụng điện thoại di động hiệu Redmi 9T thì nảy sinh ý định muốn chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài. T nhiều lần hỏi mượn điện thoại của N1 để sử dụng thử nhưng N1 không đồng ý.

Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của T đi về, K điều khiển xe đạp điện chở Nguyễn Nhật T4, còn Lê Nhật T2 điều khiển xe mô tô hiệu Halimjp Re 50cc, biển số 61GA-020.97 chở T. Lúc này, nhóm của N1 vẫn ngồi uống nước. Trên đường đi về, T nói với Lê Nhật T2, Nguyễn Nhật T4KT cần tiền nên muốn quay lại quán Bà N2 để T tìm cách lấy điện thoại di động của N1 bán lấy tiền nhưng Lê Nhật T2, Nguyễn Nhật T4K không nói gì mà tiếp tục điều khiển xe đi về.

Lúc này, T quay sang nói chuyện nhờ KNguyễn Nhật T4 quay lại quán cùng với T nhưng KNguyễn Nhật T4 không đồng ý. T nhờ Lê Nhật T2 chở đi thì Lê Nhật T2 đồng ý. Lúc này, T nói KNguyễn Nhật T4 dừng xe lại rồi nói to cho cả nhóm nghe là “giả vờ rủ N1 đi đánh nhau rồi lấy điện thoại của N1” và “chở N1 đi đến nhà hoang để đánh lấy điện thoại”, rồi nói tất cả quay lại quán để giúp T. Sau đó, Lê Nhật T2 điều khiển xe mô tô biển số 61GA-020.97 chở T chạy trước, còn K điều khiển xe đạp điện chở Nguyễn Nhật T4 đi theo phía sau.

Khi đến quán Bà N2, T đi vào nói với nhóm N1 là “Tụi em giúp anh đi đánh nhau cái tụi nó hẹn anh trong này nè”. Nghe T nói vậy thì N1 rủ thêm Bùi Duy LNguyễn Hoàng D1 đi cùng. Lúc này, K điều khiển xe đạp điện chở Nguyễn Nhật T4 cũng vừa đến. T nói N1 lên xe của Lê Nhật T2 ngồi cùng với T chạy đi trước, còn L điều khiển xe mô tô chở D1, K điều khiển xe đạp điện chở Nguyễn Nhật T4 chạy theo phía sau. Khi đi được khoảng 100m, T chỉ dẫn cho Lê Nhật T2 điều khiển xe mô tô rẽ qua nhiều đường hẻm và tăng ga để LD1 không theo kịp. Do không theo kịp xe của Lê Nhật T2 nên L nên điều khiển xe mô tô chở D1 quay về thì gặp KNguyễn Nhật T4 cũng đang dắt xe đạp quay về (xe hết điện) nên KNguyễn Nhật T4 nhờ LD1 điều khiển xe mô tô đẩy phụ xe đạp điện để cùng nhau đi về nhà.

Đối với TLê Nhật T2, khi T chỉ dẫn cho Lê Nhật T2 chở TN1 đi đến trước một ngôi nhà hoang ở trong đường H, thuộc ấp P, xã P, thành phố B, thì T2 dừng xe lại để TN1 xuống, rồi T2 điều khiển xe chạy cách chỗ TN1 đứng khoảng 20m để chờ T. Lúc này, T giả vờ nói với N1 “Tụi nó ở trong nhà hoang”, rồi kêu N1 cùng với T đi vào nhà hoang để đánh nhau nhưng N1 nói “Chờ bên mình đến đủ rồi vào luôn”. Khi N1 vừa nói xong thì T dùng tay đấm vào miệng của Nam một cái, rồi ghì N1 xuống giật lấy chiếc điện thoại di động hiệu Redmi 9T màu đen của N1 đang cầm trên tay phải, rồi yêu cầu N1 mở mật khẩu điện thoại cho T. Lúc này, N1 sợ bị T đánh tiếp nên làm theo yêu cầu của T. Sau khi mở được mật khẩu điện thoại, T đi đến chỗ Lê Nhật T2 nói T2 điều khiển xe mô tô chở T đến bãi đất trống thuộc khu phố F, phường T, thị xã B (nay là thành phố B). Khi đến nơi, T xuống xe rồi nói Lê Nhật T2 đi về. Sau đó, T đăng nhập vào ứng dụng M gọi cho bạn tên T5 (không rõ lai lịch) nhờ chở đến khu vực chợ Đ2. Đến sáng ngày 23/3/2024, T gọi M cho bạn tên H2 (không rõ lai lịch) nhờ chở đến khu vực xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương để gặp bạn tên N1 (không rõ lai lịch). Tại đây, T nhờ N1 chở đến tiệm điện thoại di động Q, thuộc ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương của anh Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1997, nơi thường trú: Khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương) bán chiếc điện thoại Redmi 9T được 1.000.000 đồng. Tiền có được, T tiêu xài hết.

Đối với bị hại Nguyễn Hoài N1, sau khi bị TLê Nhật T2 chiếm đoạt điện thoại thì N1 đi bộ về nhà. Khi đi về đến gần nhà thì N1 gặp L, D1, KNguyễn Nhật T4 thì N1 kể lại chuyện bị TLê Nhật T2 cướp điện thoại nên cả nhóm đã nói N1 đi trình báo Công an xã P. Lực lượng Công an xã P đã tiến hành xác minh và mời Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T2 làm việc. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T, 01 xe mô tô hiệu Halimjp Rc 50cc, biển số 61GA-020.97.

Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 28/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã B, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9T, màu đen, trị giá 1.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu TLê Nhật T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của TT2 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Nhật T4, Nguyễn Huỳnh Vũ K khai: Trên đường từ quán Bà N2 về, khi T nhờ chở quay lại quán để lấy điện thoại của Nguyễn Hoài N1 thì cả hai không đồng ý. Khi thấy T nhờ Lê Nhật T2 chở đi và Lê Nhật T2 đồng ý, rồi thấy T nói lớn giọng với cả nhóm nên Nguyễn Nhật T4K sợ nên đồng ý quay lại quán cùng với TLê Nhật T2. Khi thấy TLê Nhật T2 chở N1 đi thì Nguyễn Nhật T4Nguyễn Huỳnh Vũ K bỏ về do nhận thức được việc đi cùng là vi phạm pháp luật. Trên đường đi về, xe bị hết điện nên cả hai dắt bộ thì gặp LD1 cũng đang chạy về nên nhờ LD1 đẩy hộ xe. Khi cả nhóm đang trên đường về thì gặp N1 đi bộ đến và kể lại việc N1 bị T cướp điện thoại thì cả nhóm đã nói N1 đi trình báo Công an.

*Về xử lý vật chứng:

Ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý vật chứng giao trả điện thoại di động hiệu Redmi 9T, màu đen cho anh Nguyễn Văn Đ là cha của bị hại Nguyễn Văn N3. Ông Đ không có yêu cầu giải quyết gì thêm.

Xe hiệu Redmi 9T, 01 xe mô tô hiệu Halimjp Re 50cc, biển số 61GA-020.97 do chị Lê Thụy Phương U (sinh năm 1991, nơi thường trú: Ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương) là mẹ của Lê Nhật T2 đứng tên đăng ký. Chị U cho T2 mượn xe để đi làm. Ngày 02/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả xe cho chị U

*Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn H2 yêu cầu Nguyễn Hữu T phải bồi thường số tiền mua điện thoại là 1.000.000 đồng. T đồng ý bồi thường nhưng hiện tại chưa có tiền. Tuy nhiên, hiện nay anh H2 không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Tại Bản Cáo trạng số 245/CT-VKSBC ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T2 về tội: “Cướp tài sản” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 245/CT-VKSBC ngày 05/9/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T2 về tội: “Cướp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức hình phạt từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, 91, 101; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Nhật T2 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm.

Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Hoài N1 và người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt nhưng tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt đề ngày 11/9/2024 trình bày: Cháu N1 và ông Đ yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại tinh thần cho cháu N1 số tiền là 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Ngày 10/9/2024, bị cáo Lê Nhật T2 và mẹ của Lê Nhật T2 là chị Lê Thụy Phương U có bồi thường cho cháu N1 số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để khắc phục thiệt hại tinh thần cho cháu N1 do sau khi các bị cáo cướp tài sản của cháu N1, làm cháu bị ảnh hưởng, khủng hoảng tinh thần. Cháu N1 và ông Nguyễn Văn Đ đã nhận số tiền này. Do đó, nay bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác. Ngoài ra, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Nhật T2 và bị cáo Nguyễn Hữu T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Hoài N1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng cung cấp cho Hội đồng xét xử luận cứ bảo vệ cho bị hại Nguyễn Hoài N1 có nội dung:

  1. Về tố tụng: Trong suốt quá trình tố tụng vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật cũng như đối với quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, bị cáo; đồng thời, bị hại xác định tự nguyện trình bày đúng và đầy đủ toàn bộ nội dung sự việc đã xảy ra, phù hợp chứng cứ, tài liệu đã được điều tra, thu thập cho nên không khiếu nại hay ý kiến gì khác.
  2. Về nội dung vụ án: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T2 là nghiêm trọng, song các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội đều chưa đủ 18 tuổi, là người chưa thành niên, chưa có sự phát triển đầy đủ về nhận thức, về pháp luật cũng như về hành vi của mình còn hạn chế. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện. Hành vi của các bị cáo gây ảnh xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội cần phải xử phạt các bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, tuổi đời của các bị cáo còn quá nhỏ, và đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Hoài N1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T2 được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật và tinh thần giáo dục cải tạo người phạm tội, sửa chữa sai lầm, giúp họ sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
  3. Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự trong vụ án: Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không có ý kiến gì. Về vật chứng đề nghị xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T trình bày: Thống nhất toàn bộ nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát về việc truy tố đối với các bị cáo về tội: “Cướp tài sản” theo điểm, khoản, điều luật mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Đồng thời thống nhất với quan điểm xử lý của đại diện Viện kiểm sát, cần phải được xử lý nghiêm nhằm tăng tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo T có nhân thân tốt, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, cha chết, bị cáo ở với mẹ nhưng từ nhỏ bị cáo thiếu sự quan tâm chăm sóc của gia đình, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, được bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử cần áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát là 04 năm tù nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Lê Nhật T2 trình bày: Thống nhất toàn bộ nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát về việc truy tố đối với các bị cáo về tội: “Cướp tài sản” theo điểm, khoản, điều luật mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Đồng thời thống nhất với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng như phù hợp với độ tuổi của bị cáo, việc cho bị cáo T2 được hưởng án treo là thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, thống nhất đề nghị của Viện Kiểm sát về việc giao bị cáo cho chính quyền địa phương, gia đình giám sát giáo dục, không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù giam. Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo T2 mới 14 tuổi 04 tháng 22 ngày nên nhận thức pháp luật còn rất hạn chế, không biết và lường được hậu quả cho việc giúp sức cho bị cáo T là hành vi vi phạm pháp luật. Do bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, cần áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo tại Điều 51, 58, 65, 91, 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt có nội dung: Không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung cáo trạng truy tố, không bào chữa bổ sung, không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của ơ"Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của ơ"Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

Về hành vi tố tụng của người bào chữa: Trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi tố tụng của người bào chữa là đúng, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt tại phiên tòa: Tại phiên tòa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người bào chữa cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 291, 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại ơ"Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Chiều ngày 22/3/2024, Nguyễn Hữu T đã có hành vi nói dối là rủ bị hại Nguyễn Hoài N1 cùng TT2 đi đến ngôi nhà hoang để hỗ trợ T đánh nhau với một nhóm người khác với mục đích đến nơi vắng vẻ sẽ dùng vũ lực chiếm đoạt điện thoại di động của N1. Lê Nhật T2 biết động cơ, mục đích phạm tội của T nhưng đồng ý chở TN1 đi theo sự chỉ dẫn của T. Đến khoảng 17 giờ, ngày 22/3/2024, tại khu vực phía trước ngôi nhà hoang thuộc đường H, ấp P, xã P, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương, T đã dùng tay đánh vào mặt của N1 rồi chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Redmi 9T, màu đen, trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng) của N1. Sau đó, T đem điện thoại chiếm đoạt được đi bán cho anh Nguyễn Văn H2 được 1.000.000 đồng (một triệu đồng) và tiêu xài cá nhân hết.

Đối với T2, sau khi chở TN1 bằng xe mô tô đến phía trước ngôi nhà hoang, T2 đã điều khiển xe cách đó 20 mét đứng chờ T, sau khi T chiếm đoạt được điện thoại của N1, T2 đã điều khiển xe chở T đến bãi đất trống thuộc khu phố F, phường T, thị xã B (nay là thành phố B) theo sự chỉ dẫn của T.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, bản cáo trạng số 245/CT-VKSBC ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết hành vi cướp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về vai trò đồng phạm: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia thực hiện tội phạm không có sự phân công vai trò của từng người. Trong vụ án này, bị cáo T là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê bị cáo T2 tham gia thực hiện tội phạm, vừa là người trực tiếp thực hiện hành vi cướp tài sản nên bị cáo là người giữ vai trò chính; bị cáo T2 biết được hành vi của T nhưng vẫn đồng ý chở T và bị hại đến địa điểm theo sự chỉ dẫn của T nên bị cáo T2 tham gia với vai trò là người giúp sức với vai trò không đáng kể. Do đó cần áp dụng quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo TT2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Hoài N1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; tài sản đã thu hồi trao trả cho bị hại nên bị cáo TT2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Riêng đối với bị cáo Lê Nhật T2 đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại nên hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội Hội đồng xét xử cần xem xét, cân nhắc hình phạt cho tương xứng từng bị cáo.

[7] Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” nên bị xét xử ở điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Ông Nguyễn Văn H2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với điện thoại di động hiệu Redmi 9T, màu đen, trị giá 1.000.000 đồng của bị hại Nguyễn Hoài N1 đã được thu hồi, trao trả lại cho bị hại. Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu các bị cáo bồi thường 1.000.000 đồng (một triệu đồng) thiệt hại về tinh thần. Ngày 10/9/2024, bị cáo Lê Nhật T2 và người đại diện hợp pháp của bị cáo T2 đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho bị hại. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi:

Xét thấy, bị cáo T sinh ngày 01/10/2006, tính đến thời điểm phạm tội (ngày 22/3/2024) bị cáo chưa đủ 18 tuổi; bị cáo T2 sinh ngày 30/10/2009, tính đến thời điểm phạm tội (ngày 22/3/2024) bị cáo mới 14 tuổi 04 tháng 22 ngày. Do đó, áp dụng nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi để quyết định cho các bị cáo tại các Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét, bị cáo T2 có nơi cư trú rõ ràng; chưa có tiền án tiền sự; thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 16 tuổi; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo T2 có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Tốivề hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hìnhvề án treo, cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.

Đối với bị cáo T, mặc dù đến thời điểm xét xử bị cáo vẫn chưa đủ 18 tuổi và có nhân thân tốt, tuy nhiên bị cáo là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê bị cáo T2 cùng thực hiện tội phạm và là người trực tiếp thực hiện tội phạm, chiếm đoạt tài sản và đem tài sản đi bán tiêu xài cá nhân hết, bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, ngoài ra bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và các quy định khác.

Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho các bị cáo và bị hại là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T2 phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 04 (bốn) năm. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/3/2024.
  3. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, 101; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Áp dụng Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Nhật T2 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (27/9/2024).

Giao bị cáo Lê Nhật T2 cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 để giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo Lê Nhật T2 theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 95/LCCT-TA-BC ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/9/2024);

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Lê Nhật T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (27/9/2024);

Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại; người bào chữa cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Ủy ban nhân dân xã Phú An, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đậu Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 251/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp tài sản

  • Số bản án: 251/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger