TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh P1 |
Bản án số: 251/2024/HS-ST Ngày: 15-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh
Thẩm phán: Ông Hoàng Nhật Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Chu Thị Kim Oanh
Bà Trần Thị Dung
Bà Vũ Thị Cự
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 778/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. LƯU QUANG P, sinh ngày 07/4/19XX tại H N; ĐKHKTT và nơi cư trú: Số X - Y, tổ Z NM, phường M Đ 1, quận N T L, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Quang M và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); có vợ Trần Thị O và 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội, có mặt.
2. HOÀNG ANH T, sinh ngày 08/6/19XX tại T Q; ĐKHKTT: Tập thể Công ty X, xã Đ X, huyện G L, TP Hà Nội; nơi cư trú: Số X, D Khu Đô Thị Đ X, xã Đ X, huyện G L, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Nguyên Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ A; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng B (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; có vợ Nguyễn Thị Phương L và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 176/QĐ-XPHC ngày 17/8/2022 của Công an huyện Gia Lâm, TP Hà Nội xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Lưu Quang P:
Ông Nguyễn Đức Hinh và ông Nguyễn Văn Giới - Luật sư Công ty luật TNHH Viên Thành thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Anh T:
Bà Đinh Thị Kim Thoa - Luật sư Công ty luật TNHH Bảo Thiên thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.
* Bị hại:
- Anh Hoàng Văn P1, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Thôn X, phường Đ S, thành phố T Đ, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Số X phố L L Q, phường PT, quận T H, TP Hà Nội, vắng mặt.
- Chị Đàm Thị H, sinh năm 19XX, nơi cư trú: Số X phố L L Q, phường P T, quận T H, TP Hà Nội, vắng mặt.
- Chị Phan Thị T2, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Khối H L, thị trấn N Đ, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Thị O, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Số X - Y, tổ Z N M, phường M Đ 1, quận N T L, TP Hà Nội, có mặt.
- Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Khối H L, thị trấn N Đ, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Nam Từ Liêm, Hà Nội nhận được đơn của Nguyễn Ngọc T1 (sinh năm 1990; HKTT: thôn H X, xã T H Đ, huyện L N, tỉnh Hà Nam) tố cáo Lưu Quang P (sinh năm 19XX; HKTT: Tổ Z N M, phường M Đ 1, quận N T L, Hà Nội) và Hoàng Anh T (sinh năm 19XX. HKTT: Tập thể công ty X, xã Đ X, huyện G L, TP Hà Nội - Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, Hà Nội) có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 300.000.000 đồng thông qua hình thức nhận tiền để lo cho T1 được hưởng án treo. Quá trình thụ lý, lập hồ sơ giải quyết tin báo tố giác về tội phạm, Cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội của các đối tượng như sau:
Hoàng Văn P1 (sinh năm 19XX, HKTT: Thôn X, phường Đ S, TP T Đ, tỉnh Ninh Bình) thuê trọ tại số X-Y ngách Z N M, phường M Đ 1, quận N T L, Hà Nội do Lưu Quang P, là chủ nhà trọ. Ngày 14/4/2021, P1 cùng Nguyễn Ngọc T1, Đàm Thị H (sinh năm 19XX, HKTT: số X phố L L Q, phường P T, quận T H, Hà Nội) và Phan Thị T2 (sinh năm 19XX, HKTT: Khối H L, thị trấn N Đ, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An) cùng 03 đối tượng khác bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội bắt và tạm giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 23/4/2021, T1, P1, H, T2 bị khởi tố bị can về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. P1 về nhà trọ kể lại toàn bộ vụ việc cho P. Sau khi nghe xong, P hứa sẽ lo được án treo đến mức thấp nhất cho nhóm của P1. Sau đó, P1 nói lại cho T1, H, T2 nghe và tất cả đồng ý nhờ P giúp được hưởng án treo. Khoảng cuối tháng 4/2021, P1 cùng T1, H, T2 đến nhà Lưu Quang P tại số X-Y ngách Z N M, phường M Đ 1, quận N T L để nói chuyện. Tại đây, P nói quen Hoàng Anh T là cán bộ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, Hà Nội là người có nhiều mối quan hệ có thể lo cho P1, T1, H, T2 được hưởng án treo. Ngay lúc đó P gọi điện thoại cho Hoàng Anh T và bật loa ngoài cho T1, P1, H, T2 cùng nghe. Lưu Quang P nhờ T xem có giúp
3
được không thì T nói đã xem qua hồ sơ rồi, hành vi không có gì nghiêm trọng, nhân thân tốt nên có thể lo cho được hưởng án treo. Sau đó T báo cho P chi phí lo án treo mỗi người hết 250.000.000 đồng. Do Hoàng Văn P1 có hoàn cảnh khó khăn nên T báo chi phí của P1 hết 200.000.000 đồng, nhưng sau đó P thông báo với T1, P1, H, T2 chi phí để lo án treo là 300.000.000 đồng/1 người và mọi liên lạc, giao nhận tiền đều thông qua P thì nhóm P1 tin tưởng đồng ý.
Khoảng cuối tháng 4/2021, Nguyễn Ngọc T1 và Hoàng Văn P1 đưa cho Lưu Quang P số tiền là 300.000.000 đồng (mỗi người 150.000.000 đồng).
Khoảng giữa tháng 5/2021, T1 tiếp tục đưa cho P số tiền 150.000.000 đồng, P1 đưa cho P số tiền 130.000.000 đồng tại nhà của P. Ngày 13/5/2021, anh Nguyễn Tuấn A (sinh năm 19XX - là chồng Phan Thị T2) chuyển số tiền 150.000.000 đồng từ tài khoản số 810084699999999 mở tại ngân hàng NamABank mang tên Nguyễn Tuấn A đến tài khoản số 22010004724262 mở tại Ngân hàng BIDV mang tên Lưu Quang P. Ngày 30/4/2021 và ngày 17/5/2021, Đàm Thị H đến nhà đưa cho P 02 lần tổng số tiền 150.000.000 đồng và 02 lần chuyển khoản số tiền 150.000.000 đồng từ tài khoản số 0991000029130 mở tại ngân hàng Vietcombnk mang tên Đàm Thị H đến số tài khoản của P nêu trên. Khoảng cuối tháng 5/2021 Phan Thị T2 cùng cH đến nhà đưa cho P số tiền 150.000.000 đồng. Khoảng tháng 7/2021, P1 đưa cho P số tiền 20.000.000 đồng. Tổng số tiền P nhận là 1.200.000.000 đồng, trong đó nhận tiền mặt là 900.000.000 đồng, nhận chuyển khoản là 300.000.000 đồng. Những lần đưa tiền mặt các bên không viết giấy biên nhận. Sau khi nhận tiền của các bị hại, khoảng đầu tháng 5/2021 P cùng P1 đi xe taxi đến cổng Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, tại đây P đưa cho T số tiền 165.000.000 đồng, việc đưa tiền có P1 chứng kiến nhưng không viết giấy biên nhận. Khoảng giữa tháng 5/2021 tại khu vực sân vận động quốc gia Mỹ Đình, P đưa cho T số tiền 285.000.000 đồng, việc đưa tiền không có người chứng kiến, không viết giấy biên nhận. Khoảng tháng 6/2021, T đến nhà P thì P đưa cho T số tiền 500.000.000 đồng, việc đưa tiền có bà Trần Thị O (sinh năm 1975 là vợ bị can P) chứng
4
kiến nhưng không viết giấy biên nhận.
Sau khi nhận của P1, T1, T2, H tổng số tiền 1.200.000.000 đồng thì P đưa cho Hoàng Anh T 950.000.000 đồng như đã nêu trên, P giữ lại số tiền 250.000.000 đồng nhưng các bị can không liên hệ với cơ quan, tổ chức nào để lo cho T1, P1, H, Thuỷ được hưởng án treo mà đã sử dụng chi tiêu cá nhân. Ngày 04/3/2022, T1, P1, H, T2 nhận quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can từ tội Tàng trữ trái phép chất ma túy sang tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 2 điều 255 Bộ luật Hình sự thì P1, T1, H, T2 thấy bất ngờ và hẹn gặp T và P để hỏi rõ lý do bị khởi tố về tội nặng hơn. Khoảng cuối tháng 3/2022 T1, P1, H, T2 đến nhà P thì gặp P và T. Tại đây H, P1 yêu cầu giải thích lý do đã đưa tiền cho P nhưng vẫn bị khởi tố về tội nặng hơn đồng thời T1 ghi âm cuộc nói chuyện thì P và T vẫn hứa sẽ lo được án treo cho nhóm của P1. Sau khi biết mình bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì P1, T1, H, T2 yêu cầu trả lại tiền. Từ tháng 4/2022 đến ngày 07/12/2022, bà Trần Thị O đã trả lại cho các bị hại Nguyễn Ngọc T1, Hoàng Văn P1, Đàm Thị H, Phan Thị T2 nhiều lần mỗi người 300.000.000 đồng. Từ ngày 15/8/2022 đến tháng 12/2022, Hoàng Anh T đã trả cho bà Trần Thị O tổng số tiền 890.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: Nguyễn Ngọc T1 giao nộp 01 USB chứa file ghi âm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Nam Từ Liêm đã trưng cầu giám định file ghi âm do Nguyễn Ngọc T1 giao nộp.
Tại bản Kết luận giám định số 1766/KL- KTHS, của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung đối với File ghi âm gửi giám định; Tiếng nói của Hoàng Anh T trong File ghi âm gửi giám định và trong các mẫu so sánh là của cùng một người; Tiếng nói của Lưu Quang P trong File ghi âm gửi giám định và trong các mẫu so sánh là của cùng một người. Tiếng nói của Đàm Thị H trong File ghi âm gửi giám định và trong các mẫu so sánh là của cùng một người. Tiếng nói của Hoàng Văn P1 trong File ghi âm gửi giám định và trong các mẫu so sánh là của cùng một người, kèm theo bản dịch nội dung ghi âm, trong đó có đoạn nội dung trao đổi như sau:
5
- H: Bây giờ bọn cháu ký kết luận điều tra là tội tổ chức, nó không đúng với thỏa thuận ban đầu, thì cho bọn cháu xin lại tiền.
- T: Viện kiểm sát kết luận đâu mà tổ chức.
- P: Có nghĩa là đấy là bên công an thôi đúng không, còn chưa có bên viện đúng không.
- H: Anh ơi đừng nghĩ là em không hiểu biết pháp luật, bên Viện với Công an bây giờ là 1.
- T: Bây giờ Viện kiểm sát nó vẫn khăng khăng với mình là sẽ để khoản 1 được chưa.
- H: Cách đây gần 1 năm bọn em mỗi người chuẩn bị 300 triệu, không lo được thì cho cháu xin lại tiền. Cháu hỏi là bây giờ chú nói chuyện với nhờ ai.
- T: Nói chuyện với ai là việc của chú.
- P: Chú nhờ ai thì chú sẽ chịu trách nhiệm với chú T.
Sao kê tài khoản của Lưu Quang P, Nguyễn T Anh, Đàm Thị H xác định số tiền các bị hại chuyển khoản cho P như đã nêu trên.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Lưu Quang P thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên; Đối với bị can Hoàng Anh T ban đầu khai không hứa hẹn lo án treo, lo giảm án cho nhóm của P1, không nhận tiền của Lưu Quang P. Sau đó Hoàng Anh T khai có nhận của P số tiền 950.000.000 đồng để lo án treo, giảm án nhưng không liên hệ với cá nhân, cơ quan nào để lo án treo, giảm án cho nhóm của P1. Số tiền chiếm đoạt T đã chi tiêu cá nhân.
Xác minh kết quả giải quyết vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xác định: Bản án số 143/2022/HSST ngày 29/6/2022, của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội tuyên phạt Nguyễn Ngọc T1, Hoàng Văn P1, Đàm Thị H, Phan Thị T2 mỗi bị cáo 8 năm 6 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và Bản án số 221/2023/HSPT ngày 10/3/2023, của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử P1 thẩm, tuyên phạt Nguyễn Ngọc T1, Hoàng Văn P1, Đàm Thị H, Phan Thị T2 mỗi bị cáo 7 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật
6
Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Ngọc T1, Hoàng Văn P1, Đàm Thị H, Phan Thị T2 đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt, nay không yêu cầu bồi thường gì thêm; Bà Trần Thị O yêu cầu bị can Hoàng Anh T bồi hoàn số tiền 60.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 710/CT-VKS-P3 ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lưu Quang P, Hoàng Anh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lưu Quang P, Hoàng Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã quy kết. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất với lý do bị cáo Hoàng Anh T là lao động chính trong gia đình; hoàn cảnh gia đình khó khăn; vợ không có công việc, mẹ già yếu bị tai nạn, bố mất sớm, con còn nhỏ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị O đề nghị buộc bị cáo Hoàng Anh T phải trả lại bà số tiền 60.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng cùng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với bị cáo Lưu Quang P, Hoàng Anh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lưu Quang P từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Hoàng Anh T từ 09 năm đến 10 năm tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề nghị.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lưu Quang P trình bày bản bào chữa cho rằng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử
7
xem xét trách nhiệm hình sự cho bị cáo: bị cáo mới học hết lớp hai, trình độ nhận thức pháp luật hạn chế, tin tưởng T làm được việc nên đã nhận lời xin án treo cho bị hại; bị cáo cùng gia đình chủ động vay tiền trả bị hại là tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; bị cáo có thành tích trong chiến đấu tại mặt trận Hà Giang bị thương tật; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có bố đẻ có công với cách mạng, được tặng thưởng huân, huy chương; hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ không có công việc. Luật sư đề nghị áp dụng điểm b, n, s, t, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo mức thấp nhất dưới khung hình phạt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Hoàng Anh T trình bày bản bào chữa cho rằng P là người khởi xướng của vụ án, đưa ra thông tin gian dối, không có P thì không có vụ án này, T chỉ đồng phạm giúp sức; Viện kiểm sát đưa vai trò T cao hơn P là không hợp lý; bị cáo có nhiều thành tích trong công tác; bị cáo phạm tội lần đầu, bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo; bị cáo tích cực giúp Cơ quan điều tra nhanh chóng giải quyết vụ án; bị cáo tự nguyện khắc phục hết cho bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bà nội bị cáo là mẹ Việt nam anh hùng, bà ngoại được tặng thưởng kỷ niệm chương của Hội liên hiệp phụ nữ. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo dưới mức 07 năm tù.
Trong phần tranh tụng Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, các bị cáo, Luật sư bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án giữ nguyên quan điểm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều
8
tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho các bị cáo, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lưu Quang P, Hoàng Anh T phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng cuối tháng 4/2021, Nguyễn Ngọc T1, Hoàng Văn P1, Đàm Thị H, Phan Thị T2 bị bắt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đã nhờ Lưu Quang P lo cho được hưởng án treo thì P hứa sẽ nhờ Hoàng Anh T lo án treo cho P1, T1, H, T2 với chi phí 300.000.000 đồng/1 người. Mặc dù không có khả năng, không có chức năng, nhiệm vụ trong việc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án, nhưng P đã nhận của T1, P1, H T2 tổng số tiền 1.200.000.000 đồng, sau đó chuyển cho Hoàng Anh T tổng số tiền 950.000.000 đồng để T lo án treo cho T1, P1, H, T2; P giữ lại số tiền 250.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của các bị hại, Lưu Quang P và Hoàng Anh T không liên hệ với cơ quan, tổ chức nào để lo án treo cho T1, P1, H, Thuỷ mà sử dụng số tiền chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo Lưu Quang P, Hoàng Anh T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hành vi chiếm đoạt tổng số tiền 1.200.000.000 đồng của bị cáo Lưu Quang P, Hoàng Anh T thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên”. Chính vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Lưu Quang P, Hoàng Anh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng các quy định của pháp luật.
9
[3] Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu riêng về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, hoang mang lo lắng bất bình trong nhân dân. Do vậy đối với các bị cáo cần phải đưa ra
xét xử trước pháp luật mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với các bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng ngừa loại tội phạm này nói chung.
[4] Đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy bị cáo Hoàng Anh T là người giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người đưa ra thông tin gian dối để bị hại tin tưởng giao tiền, chiếm đoạt và sử dụng phần lớn số tiền của các bị hại nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao trong vụ án. Bị cáo Lưu Quang P thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo Hoàng Anh T, bị cáo là người khởi xướng ra hành vi phạm tội, trực tiếp nhận tiền của bị hại và cũng chiếm đoạt một phần tiền của các bị hại nên bị cáo cũng phải chịu một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- - Tăng nặng: Không.
- - Giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo cùng gia đình đã tích cực bồi thường, trả toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho các bị hại, các bị hại đều xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; nhân thân bị cáo Lưu Quang P chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo Lưu Quang P có thời gian tham gia trong quân đội bị thương tật loại A, có bố đẻ tham gia kháng chiến được tặng thưởng nhiều huân, huy chương; bị cáo Hoàng Anh T có nhiều thành tích trong công tác, gia đình nhiều người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cũng nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra các bị cáo và gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại anh Hoàng Văn P1, anh Nguyễn Ngọc T1, chị Đàm Thị H và chị Phan Thị T2 đến nay các bị hại không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên Tòa không xem xét.
[7] Về các biện pháp tư pháp:
10
Quá trình điều tra, giải quyết vụ án bà Trần Thị O đã bồi thường trả cho các bị hại thay cho các bị cáo tổng số tiền 1.200.000.000 đồng. Bị cáo Hoàng Anh T chiếm đoạt 950.000.000 đồng của bị hại đến nay đã trả lại cho bà Trần Thị O tổng số tiền 890.000.000 đồng. Bà Trần Thị O yêu cầu buộc bị cáo Hoàng Anh T phải trả lại cho bà nốt số tiền chiếm đoạt còn thiếu 60.000.000 đồng là có căn cứ nên cần buộc bị cáo Hoàng Anh T phải trả lại cho bà Trần Thị O số tiền 60.000.000 đồng.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lưu Quang P, Hoàng Anh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Lưu Quang P 07 (Bẩy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023.
- - Bị cáo Hoàng Anh T 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự,
Buộc bị cáo Hoàng Anh T phải trả cho bà Trần Thị O số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- - Bị cáo Lưu Quang P, Hoàng Anh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- - Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
11
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Ngọc Cảnh |
12
Bản án số 251/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 251/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Quang P - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
