TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số : 251/2025/HSST Ngày : 06/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
2/ Ông Nguyễn Đình Thức;
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyên Khôi là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh – Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 06 tháng 11 năm 2025 tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 1) tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 184/2025/TLST- HS ngày 08 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 342/2025/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: VÕ THỊ THU T4; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1981 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh); Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Võ Văn S (đã mất) và bà Mai Thị L (đã mất); Chồng: Phạm Minh C, sinh năm 1985; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực quận T - Trại tạm giam C, Công an Thành phố H;
2/ Họ và tên: NGÔ VŨ G1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1993 tại tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã Ó, tỉnh An Giang); Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Ngô Văn T1, sinh năm (không rõ) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1971; Vợ: không rõ; Con: 01 người, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực quận T - Trại tạm giam C, Công an Thành phố H;
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:Anh Lý Cẩm X, sinh năm 1980, địa chỉ: E Tổ F, ấp E xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh);
(bị hại vắng mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thanh T3, sinh năm 1982, địa chỉ: số A, ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh);
- Bà Lê Thị Diễm L1, sinh năm 1978, địa chỉ: tổ B, ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh);
- Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1975, địa chỉ: 5 L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh);
- Ông Diêu Thiệu V, sinh năm 1983, địa chỉ: A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh);
- Ông Phạm Minh G, sinh năm 1977, địa chỉ: tổ A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã P, tỉnh Tây Ninh);
- Bà Võ Thị M, sinh năm 1979, địa chỉ: 2 N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh);
(vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 09/01/2024, Đặng Thanh T3 đi khám bệnh tại Bệnh viện huyện B thì thấy anh Lý Cẩm X là tài xế đang đứng kế bên xe ô tô để chờ đón khách, trên tay đeo nhẫn vàng và sử dụng điện thoại Iphone 13 Promax nên T3 nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh X. Để tạo lòng tin với anh X, T3 đã đến tiếp cận làm quen, xin số điện thoại kết bạn Zalo với X và nói dối bản thân là chủ một xưởng may ở gần ngã tư B, quận B, nhà ở gần chợ B, Quận F đồng thời hứa hẹn khi nào đi lấy tiền hàng sẽ gọi điện thoại thuê anh X đến chở. Sau khi về nhà, T3 thường xuyên liên lạc với anh X đồng thời rủ anh X đi ăn uống và đi chơi để anh X tin là T3 có tình cảm với anh X.
Ngày 11/01/2024, T3 và anh X hẹn nhau đi uống nước trên đường T, quận B, tâm sự nói chuyện với nhau. Sau khi về đến nhà, T3 gọi điện thoại cho Lê Thị Diễm L1 nói cho L1 biết mới quen được một người tên X có nhiều tài sản có giá trị đồng thời cho biết ngày 12/01/2024 T3 hẹn anh X đi ăn uống và đi chơi nên rủ L1 cùng lên kế hoạch để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh X, L1 đồng ý. Sau đó, L1 và T3 còn rủ các đối tượng khác lên kế hoạch lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau: L1 điện thoại rủ Nguyễn Thanh H cùng tham gia và nói H tìm kiếm địa điểm thích hợp để cả nhóm thực hiện kế hoạch; T3 rủ Phạm Minh G (sống chung với T3 như vợ chồng), Võ Thị Thu T4 và Ngô Vũ G1; G rủ Diêu Thiệu V cùng tham gia kế hoạch lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh X, tất cả đồng ý.
Đến khoảng 10 giờ ngày 12/01/2024, H gọi điện thoại cho Võ Thị M nói muốn mượn nhà của M tại 2 N, phường P, quận T để tổ chức đánh bạc bịp lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác và hứa nếu chiếm đoạt được tiền sẽ chia cho M 10%/ tổng số tiền chiếm đoạt được, M đồng ý.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, L1 gọi điện thoại cho H thì Hải báo đã tìm được căn nhà tại địa chỉ số B N, phường P, quận T. Sau đó, L1 hẹn gặp T4, G1, G, V tại quán cà phê số C Kênh T, phường P, quận T. Tại đây, L1 bàn với T4, G1, G, V sẽ giả bộ tổ chức chơi bài cào cái ăn tiền bằng hình thức dùng phỉnh quy đổi ra tiền (01 phỉnh màu vàng tương đương 1.000.000 đồng, phỉnh màu xanh dương tương đương 2.000.000 đồng, 01 phỉnh đỏ tương đương 5.000.000 đồng), mỗi người làm cái 04 ván, khi T3 cùng anh X đến tham gia chơi, làm cái đến ván thứ 3 thì T3 đổi bài để thắng nên mọi người sẽ đặt toàn bộ số phỉnh có trong tay đặt cược cho T3 và anh X thắng.
Sau đó, cả nhóm sẽ lấy lý do T3 và anh X phải có số tiền tương ứng mang đi đánh bạc mới được thắng số tiền trên sòng bạc để T3 có cơ hội lừa anh X đưa tiền, tài sản có giá trị nhằm chiếm đoạt, cả nhóm đồng ý.
Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, L1 gọi điện thoại cho T3 biết kế hoạch bàn bạc của cả nhóm, T3 đồng ý. T3 thống nhất với L1: khi gặp được anh X thì T3 sẽ nhá máy điện thoại để L1 gọi lại cho T3 nói đến nhà của L1 lấy tiền hàng, cung cấp địa chỉ nhà để T3 dẫn anh X đến. Đồng thời, T3 gọi điện thoại cho đối tượng tên Ú (chưa rõ lai lịch) nhờ Ú giả làm anh hai của T3, khi nào T3 gọi điện thoại sẽ nói là đang cầm số tiền 700.000.000 đồng chạy ra ngã tư A lấy tiền và hứa sẽ cho Ú 200.000 đồng khi xong việc, Ú đồng ý.
Khoảng 12 giờ cùng ngày, L1 cùng T4, G, V, G1 mang theo bộ bài tây và phỉnh cùng đến gặp H tại nhà số B N, phường P, quận T. Tại đây, L1 nói cách thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản của cả nhóm đã thống nhất cho H nghe. Lúc này, T3 nhá máy điện thoại cho L1 theo kế hoạch nên L1 gọi điện thoại lại cho T3 mở điện thoại loa ngoài cho cho anh X cùng nghe, L1 nói T3 đến nhà của L1 tại địa chỉ 2 N, phường P, quận T để lấy tiền hàng. Nghe vậy anh X đã dùng xe ô tô chở T3 đến địa chỉ trên. Lúc này, L1, H, T4, G, V, G1 chia nhau số phỉnh mà G1 mang đến, đồng thời tổ chức lập sòng bài giả bộ đánh chờ T3 và anh X đến.
Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày khi đến nhà số B N, phường P, quận T thì L1 ra mở cửa mời T3 và anh X vào nhà. Tại đây, L1 giả bộ đưa cho T3 05 phỉnh màu xanh dương trị giá 2.000.000đồng/1 phỉnh và nói là trả tiền hàng nhưng T3 nói là không đủ tiền nên L1 lấy lý do mời anh X và T3 ngồi chơi chờ chồng của L1 về thì đưa đủ. Lúc này, T3 giả vờ xin chơi làm cái 04 ván bài cào, do bàn bạc từ trước nên H, T4, G, V, G1, L1 đồng ý và L1 đứng dậy nhường tụ bài cho T3 chơi. T3 nắm tay kéo anh X xuống ngồi kế bên nhờ anh X bốc bài dùm, còn T3 là người đặt tiền cược đánh bạc. Đến ván làm cái đánh bạc thứ 3 do thống nhất từ trước nên H, T4, G, V, G1 đặt cược toàn bộ số phỉnh có trong tay với tổng số tiền tương đương 320.000.000 đồng. Trong lúc chia bài T3 lợi dụng anh X không để ý đã thay đổi 03 lá bài tụ của T3 thành 03 lá bài tây nên khi anh X mở bài dùm cho T3 thì thắng toàn bộ số phỉnh có trên sòng bạc. Lúc này, H, T4, G, V, G1 đếm tiền số phỉnh có trên sòng bạc thông báo T3 thắng tương đương số tiền là 320.000.000 đồng và yêu cầu T3 đưa ra số tiền tương đương với số tiền thắng bạc mới cho thắng toàn bộ số tiền này nếu không mang theo tiền đến đánh bạc thì không được ăn số tiền này.
Lúc này, để tạo lòng tin cho anh X, T3 giả vờ gọi điện thoại cho đối tượng tên Ú hỏi mượn tiền xử lý công việc, đồng thời mở loa ngoài cho mọi người cùng nghe. Do đã được trao đổi từ trước nên Ú nói có sẵn 700.000.000 đồng hẹn T3 ra ngã tư A lấy. Sau đó, T3 lấy lý do không có đủ tiền mặt nên đã tháo 02 lắc vàng trắng giả, 02 nhẫn giả, 01 dây chuyền giả đang đeo trên người ra đồng thời hỏi mượn anh X 01 nhẫn vàng 05 chỉ loại 24K, 01 nhẫn vàng 02 chỉ loại 18K đang đeo trên tay đưa cho H, T4, G, V, G1 nhưng mọi người nói vẫn chưa đủ. T3 tiếp tục mượn anh X tiền mặt và hứa lấy đủ tiền hàng còn dư lại bao nhiêu thì sẽ cho anh X hết. Nghe vậy, anh X đã đưa tiền mặt cho T3 số tiền 4.000.000 đồng, chuyển vào tài khoản Ngân hàng S1 060270630734 của Nguyễn Thanh H (do H cung cấp) số tiền 80.000.000 đồng; tiếp đó anh X mượn tiền của người thân và bạn bè nhờ chuyển tiền lần lượt số tiền 50.000.000 đồng; 30.000.000 đồng; 20.000.000 đồng vào tài khoản ACB số B1 tên Lương Thế V1 (do H cung cấp). Sau đó, T3 lấy lý do muốn ăn hết toàn bộ số tiền thắng bạc, nên nói anh X ra ngã tư A gặp anh hai của T3 lấy tiền đồng thời T3 cầm điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128Gb của anh X tháo sim gắn vào điện thoại di động hiệu Nokia của L1 đang để trên sòng bạc và nói anh X để điện thoại lại làm tin rồi T3 đưa điện thoại di động hiệu Nokia cùng số điện thoại của Ú cho anh X. Thấy vậy, anh X tin tưởng nên cầm điện thoại di động hiệu N điều khiển xe đến ngã tư A tìm gặp Ú nhận tiền. Khi anh X đến nơi gọi điện thoại cho Ú thì Ú nghe máy chỉ đường lòng vòng nhiều nơi rồi tắt máy nên anh X không gặp được Ú. Sau đó, anh X quay lại nhà số B N, phường P, quận T thì gặp M, lúc này M nói nhóm người trên chỉ đến mượn nhà chơi đánh bài, không quen biết, đã bỏ đi đâu không rõ. Biết bị lừa, X đã đến Công an phường P, quận T trình báo vụ việc.
Sau khi chiếm đoạt được tài sản thì T3, L1, T4, H, G, V, G1 hẹn gặp nhau tại quán cà phê số C ấp C, V, huyện B rồi L1, G mang 01 nhẫn vàng 05 chỉ loại 24K, 01 nhẫn vàng 02 chỉ loại 18K chiếm đoạt được của anh X đến tiệm V2 địa chỉ A đường L, phường B, quận B do chị Võ Thị Minh M1 làm chủ, bán với giá 37.500.000 đồng; H ra ngân hàng rút số tiền 80.000.000 đồng chiếm đoạt được từ X; H nhờ V1 rút số tiền 100.000.000 đồng lừa đảo chiếm đoạt được của X đưa cho H, đối với điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax chiếm đoạt được của anh X thì T3 giữ lại và đưa cho cả nhóm số tiền 4.000.000 đồng. Khi cả nhóm có mặt đầy đủ tại quán cà phê số tại C ấp C, V, huyện B, thì L1 chia tiền chiếm đoạt được cụ thể như sau: H được chia số tiền 29.000.000 đồng, M được chia số tiền 16.000.000 đồng, L1 được hưởng số tiền 50.500.000 đồng, G1, T4, V, Giao mỗi người được chia số tiền 11.000.000 đồng, T3 được chia số tiền 82.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Võ Thị Thu T4 và Ngô Vũ G1 đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định truy nã. Ngày 09/01/2025, Võ Thị Thu T4 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T bắt theo Quyết định truy nã. Ngày 04/4/2025, Ngô Vũ G1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T bắt theo Quyết định truy nã.
Đối với Đặng Thanh T3, Lê Thị Diễm L1, Diêu Thiệu V, Phạm Minh G, Võ Thị M và Nguyễn Thanh H đã bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú xét xử sơ thẩm theo bản án số 258/2024/HSST ngày 12/12/2024.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Võ Thị Thu T4 và Ngô Vũ G1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết luận định giá tài sản số 1232/KL-HĐĐGTS ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T xác định tài sản bị chiếm đoạt ngày 12/01/2024 có giá trị như sau: 01 nhẫn vàng trang sức nam, 05 chỉ vàng, loại 24K trị giá 31.450.000 đồng; 01 nhẫn vàng trang sức nam, 02 chỉ, loại vàng 18k trị giá 9.466.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax 128Gb trị giá 13.500.000 đồng. Tổng trị giá 54.416.000 đồng.
* Về phần dân sự: Anh Lý Cẩm X yêu cầu các bị cáo Võ Thị Thu T4 và Ngô Vũ G1 mỗi người bồi thường số tiền 11.000.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ:
- - Số tiền 11.000.000 đồng, là số tiền T4 chiếm đoạt của anh Lý Cẩm X, gia đình bị cáo T4 nộp lại để bồi thường thiệt hại cho bị hại Lý Cẩm X;
Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKS-KV9 ngày 27 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Võ Thị Thu T4 và Ngô Vũ G1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị:
- - Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 174; Điều 38; Điều 50; Điều 17, Điều 58, điểm b, s Khoản 1 Điều 51, điểm a Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Thị Thu T4 mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- - Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 174; Điều 38; Điều 50; Điều 17, Điều 58, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm a Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Ngô Vũ G1 mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Đồng thời đề nghị giải quyết phần trách nhiệm dân sự và vật chứng theo quy định pháp luật;
Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/01/2024, Võ Thị Thu T4, Ngô Vũ G1 cùng đồng phạm đã lên kế hoạch bàn bạc với nhau dùng thủ đoạn gian dối bằng cách giả vờ tổ chức đánh bạc bịp ăn tiền để chiếm đoạt số tiền 184.000.000 (một trăm tám mươi bốn triệu) đồng, một (01) nhẫn vàng 05 chỉ loại 24K trị giá 31.450.000 (ba mươi mốt ngàn bốn trăm năm mươi) đồng, một (01) nhẫn vàng 02 chỉ loại 18K trị giá 13.500.000 (mười ba triệu năm trăm ngàn) đồng, tổng trị giá 238.416.000 (hai trăm ba mươi tám triệu bốn trăm mười sáu ngàn) đồng của anh Lý Cẩm X tại số nhà B N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì bị bắt giữ. Do đó, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo về tội danh như trên là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật;
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết có một hình phạt thật nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Ngoài ra, quá trình điều tra các bị cáo đã bỏ trốn và bị truy nã gây không ít khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án do đó đây cũng là điểm cần lưu ý khi Hội đồng xét xem xét, quyết định hình phạt;
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, các bị cáo có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ thuộc trường hợp “Phạm tội có tổ chức”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra trong quá trình điều tra, bị cáo Võ Thị Thu T4 đã tác động gia đình nộp lại số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng để bồi thường cho anh Lý Cẩm X do đó cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt dành cho bị cáo T4;
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định thì các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó có khả năng thi hành nên miễn cho các bị cáo;
- Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng gia đình bị cáo Võ Thị Thu T4 nộp lại để bồi thường thiệt hại cho bị hại Lý Cẩm X. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền bị cáo T4 chiếm đoạt của anh Lý Cẩm X nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho anh Lý Cẩm X;
- Về trách nhiệm dân sự: bị hại – Lý Cẩm X yêu cầu bị cáo Ngô Vũ G1 bồi thương thiệt hại số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng. Tại phiên tòa, bị cáo G1 đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự thỏa thuận tự nguyện giữa bị cáo và bị hại, không trái quy định pháp luật nên ghi nhận buộc bị cáo Ngô Vũ G1 bồi thường số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng cho anh Lý Cẩm X;
- Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Ngô Vũ G1 phải chịu thêm án phí Dân sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- * Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 174; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; điểm a Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Võ Thị Thu T4 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025;
- * Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 174; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm a Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo:
- Ngô Vũ G1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản";
- Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2025;
- * Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Trả cho anh Lý Cẩm X số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng;
- (Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 134/PNK ngày 28/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Buộc bị cáo Ngô Vũ G1 bồi thường cho anh Lý Cẩm X số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng;
- Kể từ ngày bị cáo phải thi hành trách nhiệm dân sự như nêu trên cho đến khi thi hành xong, bị cáo G1 còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo Ngô Vũ G1 phải chịu thêm 550.000 (năm trăm năm mươi ngàn) đồng Án phí Dân sự sơ thẩm;
- Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam các bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 251/2025/HSST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 251/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Thu T4, Ngô Vũ G1 phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
