Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 251/2025/HS-PT

Ngày: 18 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Dung
Các thẩm phán: ông Phạm Tồn
ông Đinh Phước Hòa

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Xuân Thanh, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng kết nối với điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, xét xử trực tuyến phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 161/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Chí T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2025/HSST ngày 11/8/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Huế.

Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Chí T1, sinh ngày 07/02/1988 tại thành phố H; CCCD: [...]; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường D, thành phố H; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí Q (đã chết) và bà Trần Thị Y; có vợ Nguyễn Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố H. Hiện bị cáo đang chấp hành án, vắng mặt

- Bị hại:

  • + Bà Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A đường N, phường K, thành phố H, có mặt
  • + Ông Lê Văn L, sinh năm 1978 và bà Phan Thị S, sinh năm 1987; cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường K, thành phố H. Địa chỉ liên hệ: 26 đường L, phường V, thành phố H, có mặt

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại ông Lê Văn L và bà Phan Thị S: Ông Lê Văn Hoàng Tám B, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường K, thành phố H, có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại ông Lê Văn L và bà Phan Thị S: Ông Võ Công H2, Luật sư, Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: B đường L, phường V, thành phố H, có mặt

  • + Bà Cung Thị L1, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn A, xã Q, thành phố H, có mặt
  • + Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn P, xã Q, thành phố H, có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Quốc T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A đường N, TDP V, xã Q, thành phố H, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng từ năm 2020, Nguyễn Chí T1 làm việc cho Công ty cổ phần Đ1, tại A P, phường T, thành phố H, do chị Trương Thị Phương L2 làm giám đốc. Khi thấy thị trường bất động sản ở có chiều hướng tăng mạnh, kinh doanh có lãi, T1 đã huy động vốn mua nhiều thửa đất có diện tích lớn ở huyện Q và thị xã H, tách thành các thửa nhỏ để bán lại kiếm lời. Thời gian đầu việc kinh doanh thuận lợi, sau đó kinh doanh bị thua lỗ. Để có tiền trả nợ và kéo dài thời gian vay Ngân hàng để chờ giá đất lên rồi bán, T1 giả vờ nói là cần vay tiền để mua đất rồi tách thửa bán, cầm cố các giấy tờ đất không phải của mình để vay tiền, lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết của người bán đất khi ký hợp đồng ủy quyền làm giấy tờ thành hợp đồng ủy quyền toàn bộ để chiếm đoạt quyền sử dụng đất và dùng các thủ đoạn gian dối khác chiếm đoạt tài sản của người bị hại, cụ thể như sau:

Vụ thứ 01: Đối với ông Lê H3

Từ năm 2020 đến năm 2022, T1 có môi giới cho ông Lê H3 mua nhiều thửa đất, bán lại có lời nên ông H3 rất tin tưởng, T1 đã đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt tiền, cụ thể như sau:

Khoảng cuối tháng 10/2021, Nguyễn Chí T1 mua thửa đất số 272, tờ bản đồ số 8, tại xã Q, huyện Q của ông Trần N và bà Hoàng Thị G, với giá 1.190.000.000 đồng. T1 đặt cọc 50.000.000 đồng, tiền còn lại sẽ trả hết sau khi ký các giấy tờ khác do T1 yêu cầu. Sau khi thoả thuận xong, do cần tiền nên T1 giả vờ nói với ông Lê H3 là chủ đất cần vay số tiền 1.300.000.000 đồng, lãi 1.200 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày; sau 3 tháng nếu chủ đất không trả đủ tiền thì có quyền phân lô, tách thửa bán. Ông H3 tin thật nên đồng ý. Ngày 04/11/2021, T1 nói ông H3 đem theo 1.300.000.000 đồng đến phòng Công chứng Hồ Phi H4, tại đường T, thành phố H để ký hợp đồng ủy quyền, đồng thời hẹn ông N và bà G cùng đến ký hợp đồng ủy quyền cho ông H4. Ký hợp đồng xong, ông H4 đưa cho T1 số tiền 1.300.000.000 đồng. Trước khi ký hợp đồng ủy quyền, T1 đã nộp hồ sơ đăng ký chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại UBND huyện Q (cũ). Khi có thông báo được chuyển đổi mục đích sử dụng đất, T1 nói với ông H4 là chủ đất không chuộc lại đất, ông đưa sổ hồng và hợp đồng ủy quyền để Tâm đi sang tên, tách thửa để bán. T1 giấu hợp đồng ủy quyền, chuyển đổi toàn bộ diện tích thành đất ở, tách thành 6 thửa đứng tên là ông N, bà G. Khi có người mua, T1 nhờ ông N, bà G ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Với thủ đoạn trên, T1 đã bán 6 thửa với tổng số tiền 1.600.000.000 đồng, sử dụng vào mục đích cá nhân hết. T1 không trả lại tiền cho ông H4 như đã hứa mà chiếm đoạt số tiền 1.300.000.000 đồng.

T1 đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối là cần tiền mua đất để vay tiền của ông H4 nhưng rồi chiếm đoạt, khi ông H4 đòi thì T1 viết giấy xác nhận nợ số tiền 1.800.000.000 đồng và 4.800.000.000 đồng.

Đối với số tiền 4.800.000.000 đồng, bao gồm:

  • + Tiền ông H4 cho T1 vay thông qua hình thức mua bán đất của ông Trần N và Hoàng Thị G là 1.300.000.000 đồng.
  • + Số tiền 1.100.000.000 đồng là thông qua việc vay mượn để mua bán thửa đất số: 1075, 1076, tờ bản đồ số 10, có diện tích 100m², địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện Q, Thừa Thiên Huế, của ông Trương Đình N1 và bà Lương Thị Diệu Y1 (Đã trả lại đất cho ông H4).
  • + T1 nhiều lần vay tiền rồi chiếm của ông H4 số tiền là 2.400.000.000 đồng.

T1 đã trả cho ông H4 số tiền 150.000.000 đồng và hai thửa đất có giá trị 1.100.000.000 đồng.

Tổng số tiền mà T1 chiếm đoạt là 3.550.000.000 đồng.

Vụ thứ 02: Đối với chị Lê Thị Diệu H5

Khoảng đầu năm 2022, chị Lê Thị Diệu H5 làm kế toán cho Nguyễn Chí T1. Do cần tiền để trả nợ, biết chị H5 có căn nhà thuộc tài sản riêng nên T1 nảy sinh ý định giả vờ nói với chị H5 thế chấp nhà đất vay tiền Ngân hàng, đưa T1 để đưa cho người kinh doanh đất vay lấy lãi cao. Sau đó, T1 nói với chị H5 vay 1.500.000.000 đồng đưa cho T1 lấy lãi mỗi tháng khoảng 30.000.000 đồng, trả lãi và tiền gốc cho Ngân hàng 15.000.000 đồng, số tiền còn lại để nuôi con, chị H5 tin thật nên đồng ý. Tháng 7/2022, chị H5 thế chấp nhà và đất của mình tại số: 6 đường T, phường P, quận T, thành phố H, vay của Ngân hàng B3 số tiền 1.500.000.000 đồng. Vay tiền xong, chị H5 báo với T1 là phải chuyển tiền vay vào tài khoản ngoài Ngân hàng B3. T1 đưa số tài khoản 19036864630011 Ngân hàng T6 và số tài khoản 0972061061 Ngân hàng S1 của anh Trần Đình T3 (lái xe của T1) để H5 chuyển tiền vào. Sau đó, chị H5 chuyển vào tài khoản T1 số tiền 990.000.000 đồng, vào tài khoản anh T3 số tiền 500.000.000 đồng, anh T3 chuyển lại ngay cho T1. Nhận tiền xong, T1 đưa lại cho Hằng số tiền 90.000.000 đồng, còn lại 1.400.000.000 đồng trả nợ, trả lãi và tiêu xài hết. Để chị H5 tin là đầu tư, kinh doanh thật, từ ngày 07/8/2022 đến 06/12/2023, T1 chuyển cho chị H5 tổng số tiền là 313.500.000 đồng. Chiếm đoạt số tiền 1.086.500.000 đồng.

Vụ thứ 03: Đối với ông Lê Văn L, và bà Phan Thị S,

Năm 2020, Nguyễn Chí T1 mua 1.080m² đất trong thửa đất số 246, tờ bản đồ số 78, diện tích: 4.162,3m² ở địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thị xã H, thành phố H, của người tên T (đến nay không xác định được địa chỉ) với giá 1.050.000.000 đồng. Khi tiến hành làm các thủ tục chuyển nhượng thì T1 biết ông T mua 1.080m² của ông Lê Văn L và bà Phan Thị S với giá 820.000.000 đồng, đã trả số tiền 450.000.000 đồng. T1 đã đặt cọc cho T số tiền 680.000.000 đồng, trả thêm cho ông L bà S số tiền còn lại là 370.000.000 đồng.

Sau đó, vợ chồng ông L bà S giao T1 làm các thủ tục tách thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất thành quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với toàn bộ diện tích: 4.162,3m² (đề nghị cấp đổi sổ đỏ sang sổ hồng). Ngày 12/5/2021, ông L bà S được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: CY864526 tại thửa đất số 246, tờ bản đồ số 78, diện tích: 4.162,3m². Khi có sổ hồng, T1 tiếp tục làm thủ tục xin tách thửa đất này thành 04 thửa nhỏ, mục đích để chuyển đổi mục đích sử dụng đất thêm 300m² từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở cho mỗi thửa đất (04 thửa được chuyển 1.200m² đất ở).

Ngày 27/5/2021, tách thửa đất này thành 04 thửa, T1 nhờ ông Nguyễn Duy Đ và bà Nguyễn Thị V đứng tên một thửa, ông Nguyễn H6, bà Dương Thị Tố Q1 đứng tên một thửa, ông L bà S đứng tên một thửa, và T1 đứng tên một thửa.

Ngày 15/6/2021, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 04 thửa đất nêu trên. T1 photo công chứng các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tiếp tục làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất mỗi thửa thêm 300m² đất ở. T1 đem 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính đến gặp bà Nguyễn Thị Thúy H1 nói là đất của mình mua để cầm cố với số tiền 700.000.000 đồng. Trước đó, T1 đã cầm 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong thửa đất số: 414, tờ bản đồ số: 12, địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện Q và thửa đất số: 578, tờ bản đồ số: 11, địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện Q của ông Nguyễn Ngọc B1 và bà Trần Thị B2 để vay của bà Hằng số tiền 4.500.000.000 đồng.

Ngày 31/12/2021, được UBND thị xã H cho phép chuyển thêm 300m² từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở cả bốn thửa. Ngày 20/8/2022, T1 mượn lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà H1 cùng ông Nguyễn Duy Đ, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn H6, bà Dương Thị Tố Q1 để ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất các thửa đất này qua tên ông L và bà S thành một thửa, T1 nói là để hiến đất làm đường và tiếp tục tách thành nhiều thửa tiếp để bán.

Đến khoảng tháng 02/2023, T1 không có tiền nợ cho bà H1 nên nảy sinh ý định giả vờ nói với ông L, bà S là ký hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thúy H1 để làm các thủ tục tách thửa, làm đường nhưng nội dung là người nhận ủy quyền được toàn quyền định đoạt. Đồng thời T1 nói với bà H1 là đã mua hết thửa đất của ông L bà S với diện tích 4.162,3 m². Sau khi chủ đất ký công chứng ủy quyền toàn bộ thì bà H1 phải trả lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 414, tờ bản đồ số: 12, địa chỉ: Thôn L, xã Q và thửa đất số: 578, tờ bản đồ số: 11, địa chỉ: Thôn A, xã Q; thửa đất số: 164, tờ bản đồ số: 7, địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện Q cho T1, bà H1 đồng ý.

T1 gửi giấy tờ và các thông tin liên quan cho Văn phòng C2 soạn trước nội dung của Hợp đồng ủy quyền là toàn quyền định đoạt từ ông L và bà S được chuyển sang bà H1. Do ông L, bà S đã nhiều lần ký tại phòng công chứng các hợp đồng mua bán, ủy quyền nên tin rằng đây là hợp đồng ủy quyền tách thửa thật nên đã ký vào theo sự hướng dẫn của T1 mà không đọc lại Hợp đồng ủy quyền. Sau khi ông L và bà S ký xong, T1 thuê xe chở ông L và S về nhà.

Sau đó, bà H1 chuyển nhượng toàn bộ thửa nêu trên cho Lê Nguyễn Bá K với giá 2.000.000.000 đồng. Nhận chuyển nhượng xong, ông K và bà H1 đến lấy đất thì ông L, bà S mới biết toàn bộ sự việc nên làm đơn trình báo với Cơ quan điều tra.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận tại thời điểm tháng 02/2023, diện tích 3.082,3 m² tại tổ dân phố T, phường H, thị xã H, thành phố H có giá trị 2.419.605.500 đồng.

Vụ thứ 04: Đối với anh Hoàng Xuân Minh N2 và chị Trương Thị Phương L2

Khoảng từ năm 2020, Nguyễn Chí T1 làm việc cho Công ty cổ phần Đ1 do chị Trương Thị Phương L2 làm giám đốc. Năm 2021, T1 mua bán cá giống bị thua lỗ, cần tiền nên nhiều lần nói dối với anh N2 và chị L2 là chung tiền mua đất nhưng thực ra là để chiếm đoạt tiền, trả nợ và tiêu xài hết, cụ thể như sau:

Lần 1: Năm 2021, anh N2 và chị L2 đưa cho T1 số tiền 1.000.000.000 đồng để mua đất. T1 chiếm đoạt số tiền này để mua cá giống từ Bình Thuận về mang ra Huế bán, bị thua lỗ hết.

Lần 2: Tháng 8/2022, T1 tiếp tục nói với anh N2, chị L2 rằng mình đang cần tiền để giúp cho khách hàng lấy sổ đỏ đang thế chấp trong ngân hàng, khi lấy sổ đỏ ra khách hàng bán và trả lại tiền, chị L2 tin thật chuyển khoản cho T1 số tiền 1.600.000.000 đồng. Đến đầu năm 2023, chị L2 đòi thì T1 trả số tiền 390.000.000 đồng, chiếm đoạt số tiền 1.210.000.000 đồng.

Lần thứ 3: Ngày 05/1/2023, chị L2 chuyển khoản thêm cho T1 mượn 400.000.000 đồng. Sau đó, T1 nói với chị L2 là T1 quen nhân viên ngân hàng B3 đang cần tiền để đáo hạn, chị L2 tin thật nên nhiều lần chuyển cho T1 tổng cộng là 1.740.000.000 đồng.

Tổng số tiền T1 chiếm đoạt của anh N2 và chị L2 là 2.140.000.000 đồng.

Thời gian sau đó, khi N2, L2 đòi tiền thì ngày 17/7/2023, T1 viết giấy nợ anh N2 và chị L2 số tiền 4.500.000.000 đồng, cam kết trả đến tháng 9/2023 sẽ trả từ 01 đến 02 tỷ đồng, nhưng đến nay không trả.

Vụ thứ 05: Đối với anh Nguyễn Đình C.

Lần 1: Khoảng năm 2021, Nguyễn Chí T1 làm quen với các anh Phan Quốc T2, Nguyễn Đình C, Ngô Hữu Q2 đều có liên quan đến việc làm các giấy tờ về đất đai tại huyện Q. T1 cùng anh T2, ông C, anh Q2 thỏa thuận mua thửa đất số: 460, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện Q, thành phố H của ông Nguyễn Đình T4 với giá 5.400.000.000 đồng, mỗi người sẽ góp 1.350.000.000 đồng. Thỏa thuận như vậy nhưng không có ai góp tiền, nên T1 giả vờ nói là có người mua lại với giá 5.600.000.000 đồng, mỗi người lãi 50.000.000 đồng thì chỉ có ông C chuyển cho T1 số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi T1 thanh toán xong tiền cho ông T4 thì giá đất xuống, cần tiền trả nợ nên bán lại cho anh Tống Hữu Nhân T5 (Sinh năm 1989, trú tại: A Kiệt B B, phường T, quận T, thành phố H) với giá 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) và trả nợ hết. T5 đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C số tiền 200.000.000 đồng.

Lần 2: Khoảng đầu năm 2023, T5 giả vờ nói với ông C đang cần tiền để giải quyết khó khăn đối với lô đất tại thôn P, xã Q, nên cần mượn thêm tiền, ông C tin thật nên chuyển thêm cho T5 số tiền 130.000.000 đồng thì bị T5 chiếm đoạt.

Tổng số tiền chiếm đoạt của ông C là 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng).

* Tang vật thu giữ:

  • - Các tài liệu tin nhắn, sao kê tài khoản, thủ tục đăng ký đất đưa vào hồ sơ vụ án.
  • - Giấy hợp đồng đặt cọc đất có chữ ký của Trần Thị H7 và Nguyễn Chí T1, các tài liệu sao kê chuyển khoản đưa vào hồ sơ vụ án.
  • - Giấy hợp đồng đặt cọc đất có chữ ký của Nguyễn Ngọc B1, Trần Thị B2, Nguyễn Chí T1, các tài liệu tin nhắn đưa vào hồ sơ vụ án.

Vụ thứ 06: Đối với bà Cung Thị L1 (Sinh năm 1958, trú tại: Thôn A, xã Q, huyện Q, thành phố H).

Khoảng đầu năm 2021, Nguyễn Chí T1 biết bà Cung Thị L1 cần bán thửa đất số: 578, tờ bản đồ số: 11, diện tích là 1.332m² (400m² đất ở, 932m² đất trồng cây hàng năm) toạ lạc tại: Thôn A, xã Q, huyện Q. Thửa đất này đang thế chấp để vay ngân hàng số tiền 300.000.000 đồng, nên T1 đến hỏi mua. Sau khi xem giấy tờ, T1 thấy thửa đất ở vị trí thuận lợi, có thể tách thành nhiều thửa bán với giá cao. Tại thời điểm này, do không có tiền mua, T1 nảy sinh ý định giả vờ đặt cọc và đưa trước một số tiền để bà L1 tin tưởng, ký tên vào các thủ tục chuyển nhượng sang tên T1, sau đó sẽ bán cho người khác lấy tiền trả nợ và tiêu xài. T1 nói sẽ mua thửa đất này với giá 2.000.000.000 đồng, T1 có trách nhiệm làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tách thửa rồi lại cho bà L1 diện tích 400m² đất ở tại các vị trí hiện đang có nhà ở và các phòng karaoke với giá 1.260.000.000 đồng, bà L1 tin thật nên đồng ý. Trong các ngày từ 14/6/2021 đến 22/12/2021, T1 đưa cho bà L1 tổng số tiền 1.000.000.000 đồng.

Ngày 22/12/2021, T1 gọi điện thoại cho bà L1 đến văn phòng công chứng Hồ Phi H4, để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mục đích là làm các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, làm đường, tách thửa và khi bà L1 đến ký thì T1 đưa 02 hợp đồng đặt cọc có nội dung: “T1 nhận số tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng, cam kết bán lại 400m² cho bà L1 sau khi tách thửa”, bà L1 tin thật nên vào ký hợp đồng chuyển nhượng. Đến giữa năm 2022, bà L1 thấy lâu nhưng chưa tách thửa nên hỏi thì T1 nói có thay đổi Luật Đất đai nên chưa tách thửa được.

Đến cuối năm 2022, T1 cần tiền tiêu xài nên liên hệ anh Lý Quốc A (Sinh năm 1987; địa chỉ: I T, phường T, quận P, thành phố H) để vay số tiền 900.000.000 đồng. T1 nói có mua thửa đất ở huyện Q, nếu cho vay thì chủ đất sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng, nếu sau 03 tháng, T1 không có tiền trả thì thửa đất đó thuộc chủ quyền của người cho vay, anh Quốc A đồng ý.

Ngày 08/11/2022, T1 nói các giấy tờ trước đây bà L1 ký sai, cần ký lại, bà L1 tin thật nên đến Phòng công chứng Hồ Phi H4 ký vào các giấy tờ do T1 chỉ dẫn (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà L1 sang tên Lý Quốc A). Hai bên ký xong, T1 về nhà anh Lý Quốc A lập hợp đồng cầm cố, đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng, nhận 900.000.000 đồng, trả nợ và tiêu xài hết.

Hết thời hạn cam kết nhưng T1 không trả tiền, nên anh Quốc A đến nhà bà L1 đòi giao nhà và đất. Lúc này, hai bên mới biết toàn bộ sự việc như đã nêu trên, nên bà L1 làm đơn trình báo Cơ quan Công an.

Hội đồng định tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận thửa của bà Cung Thị L1 tại thời điểm tháng 11/2022 có giá trị 1.534.995.000 đồng.

Trước đó T1 đã đưa cho bà L1 số tiền 1.000.000.000 đồng, chiếm đoạt tài sản có giá trị 534.995.000 đồng (Năm trăm ba mươi bốn triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

* Tang vật thu giữ:

  • - Ngày 23/5/2024, bà Cung Thị L1 giao nộp 03 Hợp đồng đặt cọc, 01 tờ giấy phân lô.
  • - Các tài liệu thu thập tại Văn phòng C2, Chi nhánh Đăng ký đất đai huyện Q.

Các tài liệu thu giữ đều đưa vào hồ sơ vụ án.

Vụ thứ 07: Đối với bà Nguyễn Thị Thúy H1 (Sinh năm 1977, trú tại: Số A đường N, phường H, quận P, thành phố H).

Năm 2021, Nguyễn Chí T1 đặt cọc mua thửa đất số 181, tờ bản đồ số 21 diện tích 1.117 m² (trong đó: đất ở 400 m²; đất trồng cây lâu năm 717 m²) tại thôn Đ, xã Q, huyện Q, thành phố H của ông Nguyễn Ngọc B1, bà Trần Thị B2 với số tiền 2.600.000.000 đồng, trả được 1.800.000.000 đồng. Sau đó T1 cùng anh Nguyễn Đình C, Phan Quốc T2, Ngô Hữu Q2 có làm các thủ tục tách thành 7 thửa đất số: 536, 537, 538, 539, 540, 541, 542. Do còn thiếu số tiền 800.000.000 đồng nên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên vẫn tên ông B1 và bà B2.

Do cần tiền trả nợ và tiêu xài nên T1 nảy sinh ý định đến gặp bà Nguyễn Thị Thúy H1 nói dối rằng 07 thửa đất trên T1 đã mua và đã thanh toán tiền đủ cho chủ, chỉ cần có người mua là T1 nhờ chủ ký chuyển nhượng, không cần ký qua cho T1, nếu T1 không có tiền trả lại cho bà H1 thì T1 sẽ nhờ chủ ký chuyển nhượng, bà H1 tin thật nên đồng ý nhận 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hai bên lập giấy đặt cọc làm tin rồi đưa cho T1 số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).

Tiền chiếm đoạt T1 trả nợ và tiêu xài hết, không trả tiền như cam kết, nên bà H1 làm đơn trình báo.

* Tang vật thu giữ:

  • - Bà Nguyễn Thị Thúy H1 cho Cơ quan điều tra giao nộp 7 thửa đất số: 536, 537, 538, 539, 540, 541, 542 (bản chính), chuyển vật chứng để đảm bảo việc xét xử.
  • - Ngày 14/01/2025, bà Nguyễn Thị Thúy H1 giao nộp cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế 01 hợp đồng đặt cọc có chữ ký của Nguyễn Chí Tâm để đưa vào hồ sơ vụ án.

Vụ thứ 08: Đối với ông Nguyễn Thái D (Sinh năm 1977, trú tại: Số H đường T, phường T, quận P, thành phố H).

Ngày 18/2/2023, Nguyễn Chí T1 đến gặp anh Nguyễn Thái D nói cần vay một số tiền và để lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Thửa đất số: 1121 và 1122, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: Thôn N, Q, Q, Thừa Thiên Huế) của ông Trần Q3 và bà Trần Thị H7 (cùng 01 thửa đất khác mang tên Nguyễn C1). T1 nói đã mua và trả đủ tiền, khi nào có người mua lại thì chủ đất sẽ ký sang tên, anh D tin thật nên đồng ý, T1 viết giấy đặt cọc và nhận số tiền 600.000.000 đồng. Ngày 05/7/2023, T1 trả cho anh D số tiền 200.000.000 đồng, lấy lại giấy chứng nhận tên Nguyễn C1 để bán cho người khác (không xác định được tên địa chỉ người mua). Đến hạn nhưng T1 không trả, anh D tìm hiểu thì mới biết 02 thửa đất này T1 mua chung với các anh Nguyễn Đình C, Phan Quốc T2, Ngô Hữu Q2, chưa trả đủ tiền nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn tên của chủ sở hữu là ông Trần Q3 và bà Trần Thị H7. Anh D làm đơn trình báo rằng T1 đã chiếm đoạt của anh số tiền 400.000.000 đồng.

Ngoài ra, còn có nội dung về tang vật vụ án.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2025/HSST ngày 11/8/2025 Tòa án nhân dân thành phố Huế quyết định:

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T1 16 (mười sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2023.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 585, Điều 586 và Điều 591 của Bộ luật Dân sự.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Chí T1 phải trả cho ông Lê H3 3.550.000.000 đồng; bà Lê Thị Diệu H5 1.400.000.000 đồng; bà Trương Thị Phương L2 4.500.000.000 đồng; ông Nguyễn Đình C 330.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thúy H1 1.000.000.000 đồng; ông Nguyễn Thái D 400.000.000 đồng; Ông Lê Văn L, bà Phan Thị S 419.605.500 đồng; bà Cung Thị L1 số tiền 534.995.000 đồng.
  • - Truy thu của bà Nguyễn Thị Thúy H1 2.000.000.000 đồng để trả lại cho ông Lê Văn L, bà Phan Thị S.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 14 tháng 8 năm 2025, người bị hại bà Cung Thị L1 kháng cáo với nội dung: việc định giá tài sản chưa đúng thực tế, đề nghị bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà.
  • - Ngày 25 tháng 8 năm 2025, người bị hại ông Lê Văn L, bà Phan Thị S kháng cáo với nội dung: đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
  • + Xác định hợp đồng ủy quyền ngày 22/02/2023 và Hợp đồng chuyển nhượng ngày 16/8/2023 giữa bà Nguyễn Thị Thúy H1 với ông Lê Nguyễn Bá K là vô hiệu do bị lừa dối.
  • + Hủy kết quả đăng ký biến động sang tên ông Lê Nguyễn Bá K đối với thửa đất 246, tờ bản đồ số 78, phường H, thị xã H, thành phố H (nay là phường K, TP H) và buộc ông K trả lại nguyên trạng phần diện tích 3.082,3 m² đất thuộc thửa đất nêu trên.
  • + Xem xét làm rõ mối quan hệ và các thỏa thuận giữa Nguyễn Chí T1 và bà Nguyễn Thị Thúy H1 để xem xét dấu hiệu đồng phạm trong vụ án. Xác minh giá trị chuyển nhượng thực tế giữa bà H8 với ông K với thửa đất trên.
  • - Ngày 22 tháng 8 năm 2025, người bị hại bà Nguyễn Thị Thúy H1 kháng cáo với nội dung: không đồng ý trả lại cho ông Lê Văn L, bà Phan Thị S 2.000.000.000 đồng.
  • - Ngày 28 tháng 8 năm 2025, người bị hại ông Nguyễn Đình C kháng cáo với nội dung: thửa đất ông có góp vốn với T1 để mua, T1 mang đi cầm cố ở ông D lại được tuyên trả cho ông Q3, bà H7 (trong khi số tiền T1 khai đã trả còn phần dư nếu Tòa tuyên trả lại 03 số đó cho ông Q3, bà H7 thì quyền lợi của ông bị mất oan; mặt khác, thửa đất ông với T1 mua của ông B1, bà B2 tòa lại tuyên trả cho bà H1; đề nghị bảo vệ quyền ích hợp pháp của ông.
  • - Ngày 27 tháng 8 năm 2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Quốc T2 kháng cáo với nội dung: thửa đất ông có góp vốn với T1 để mua, bị cáo T1 mang đi cầm cố ở ông D lại được tuyên trả cho ông Q3, bà H7 (trong khi số tiền bị cáo T1 khai đã trả còn phần dư nếu Tòa tuyên trả lại 03 số đó cho ông Q3, bà H7 thì quyền lợi của ông bị mất oan; đề nghị bảo vệ quyền ích hợp pháp của ông.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

  • - Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng có quan điểm về giải quyết vụ án như sau: đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của người bị hại Lê Văn L, bà Phan Thị S, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự buộc ông Nguyễn Bá K trả lại đất cho ông L, bà S. Các kháng cáo khác không chấp nhận.

Ý kiến của những người kháng cáo:

  • - Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của ông L, bà S và ông L, bà S: thống nhất quan điểm của đại diện Viện Công tố.
  • - Bà Nguyễn Thị Thúy H1: không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện Công tố, bản thân bà đưa ra 5,2 tỷ đồng để đổi một lô đất bán cho ông K được có 2 tỷ đồng, bản thân bà bị thiệt hại nặng nề, nếu buộc ông K trả đất lại cho ông L thì phải trả toàn bộ các lô đất ban đầu lại cho bà.
  • - Bà Cung Thị L1: đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà.
  • - Ông Phan Quốc T2, ông Nguyễn Đình C: không chấp nhận quan điểm của đại diện Viện Công tố, số tiền các ông đưa cho bị cáo không được xem xét giải quyết ảnh hưởng quyền lợi của ông, đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: những người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, tuy bị cáo Nguyễn Chí T1 không có mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã rõ, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
  2. Về tội danh và hình phạt: bị cáo Nguyễn Chí T1 không kháng cáo, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, chiếm đoạt với tổng số tiền là 14.134.600.500 đồng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm kết bị cáo về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng:
  • [3.1] Xét kháng cáo của người bị hại ông Lê Văn L, bà Phan Thị S, bà Nguyễn Thị Thúy H1:
  • [3.1.1] Nguyễn Chí T1 đã có hành vi gian dối để chiếm đoạt diện tích 3.082,3m² quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Lê Văn L, bà Phan Thị S. Cụ thể, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối để ông L, bà S ký Hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thúy H1 để làm các thủ tục tách thửa, làm đường nhưng nội dung là người nhận ủy quyền được toàn quyền định đoạt. Do đó giao dịch dân sự này vô hiệu theo Điều 122, Điều 127 Bộ luật Dân sự.
  • [3.1.2] Mặc dù T1 chỉ mua 1.080m² đất của ông L và bà S nhưng để có tiền trả nợ cho bà H1, T1 nói với bà H1 là đã mua hết thửa đất của ông L bà S với diện tích 4.162,3m². Sau khi chủ đất ký công chứng ủy quyền toàn bộ thì bà H1 phải trả lại 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 414, 578, 164 cho T1, bà H1 đồng ý. Sau đó, bà H1 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Bá K với giá 2 tỷ đồng.
  • [3.1.3] Xét, diện tích 3.082,3 m² thuộc thửa đất số 246, tờ bản đồ số 78, diện tích: 4.162,3m² ở địa chỉ: tổ dân phố T, phường H, thị xã H, thành phố H là tài sản của ông L, bà S; bị cáo T1 đã có hành vi gian dối để chiếm đoạt quyền sử dụng đất hợp pháp của ông L bà, S, để trả nợ bằng cách đổi thế chấp cho bà H1 như nêu tại tiểu mục [3.1.2]. Đây là vật chứng tội phạm nên các giao dịch liên quan đến thửa đất số 246 là vô hiệu, không có giá trị pháp lý, người đang chiếm giữ tài sản này không thuộc trường hợp người thứ ba ngay tình thuộc trường hợp được bảo vệ quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự.
  • [3.1.4] Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc truy thu của bà Nguyễn Thị Thúy H1 2.000.000.000 đồng để trả lại cho ông Lê Văn L, bà Phan Thị S nhưng không xem xét đến trách nhiệm ông Nguyễn Bá K là không có căn cứ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho các bên, HĐXX hủy phần dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 246, tờ bản đồ số 78, diện tích: 4.162,3m² nêu trên.
  • [3.2] Xét kháng cáo của người bị hại bà Cung Thị L1:
  • [3.2.1] Khoảng đầu năm 2021, Nguyễn Chí T1 biết bà Cung Thị L1 cần bán thửa đất số: 578, tờ bản đồ số 11, diện tích là 1.332m². T1 nói sẽ mua thửa đất này với giá 2.000.000.000 đồng, T1 có trách nhiệm làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tách thửa rồi bán lại cho bà L1 diện tích 400m² đất ở tại các vị trí hiện đang có nhà ở và các phòng karaoke với giá 1.260.000.000 đồng, bà L1 tin thật nên đồng ý. T1 đưa cho bà L1 tổng số tiền 1.000.000.000 đồng.
  • [3.2.2] Đến cuối năm 2022, T1 cần tiền tiêu xài nên liên hệ anh Lý Quốc A để vay số tiền 900.000.000 đồng. T1 nói có mua thửa đất ở huyện Q, nếu cho vay thì chủ đất sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng, nếu sau 03 tháng, T1 không có tiền trả thì thửa đất đó thuộc chủ quyền của người cho vay, anh Quốc A đồng ý.
  • [3.2.3] Nguyễn Chí T1 đã có hành vi gian dối để chiếm đoạt diện tích 400m² quyền sử dụng đất hợp pháp của bà Cung Thị L1. Cụ thể, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối T1 nói các giấy tờ trước đây bà L1 ký sai, cần ký lại bà L1 tin thật nên đến Phòng Công chứng Hồ Phi H4 ký vào các giấy tờ do T1 chỉ dẫn (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà L1 sang tên Lý Quốc A). Hai bên ký xong, T1 về nhà anh Lý Quốc A lập hợp đồng cầm cố, đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng, nhận 900.000.000 đồng, trả nợ và tiêu xài hết.
  • [3.2.4] Xét, như phân tích tại các tiểu mục [3.2] thì Thửa đất số 578 là vật chứng tội phạm nên các giao dịch liên quan đến thửa đất này là vô hiệu, không có giá trị pháp lý, người đang chiếm giữ tài sản này không thuộc trường hợp người thứ ba ngay tình được bảo vệ theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị cáo T1 trả cho bà Cung Thị L1 số tiền 534.995.000 đồng trị giá thửa đất theo định giá, sau khi trừ số tiền 1 tỷ đồng bị cáo đưa trước nhưng không xem xét đến trách nhiệm anh Lý Quốc A là thiếu sót. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho các bên, HĐXX phúc thẩm hủy phần dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 578 nêu trên.
  • [3.3] Xét kháng cáo của người bị hại ông Nguyễn Đình C: bị cáo T1 cùng anh T2, ông C, anh Q3 thỏa thuận mua thửa đất số: 460, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện Q, thành phố H của ông Nguyễn Đình T4 với giá 5.400.000.000 đồng, mỗi người sẽ góp 1.350.000.000 đồng. Thỏa thuận như vậy nhưng không có ai góp tiền, nên T1 giả vờ nói là có người mua lại với giá 5.600.000.000 đồng, mỗi người lãi 50.000.000 đồng thì chỉ có ông C chuyển cho T1 số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi T1 thanh toán xong tiền cho ông T4 thì giá đất xuống, cần tiền trả nợ nên bán lại cho anh Tống Hữu Nhân T5 (Sinh năm 1989, trú tại: A Kiệt B B, phường T, quận T, thành phố H) với giá 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) và trả nợ hết. T5 đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Đình C số tiền 200.000.000 đồng. Khoảng đầu năm 2023, T5 giả vờ nói với ông C đang cần tiền để giải quyết khó khăn đối với lô đất tại thôn P, xã Q, nên cần mượn thêm tiền, ông C tin thật nên chuyển thêm cho T5 số tiền 130.000.000 đồng thì bị T5 chiếm đoạt. Tổng số tiền chiếm đoạt của ông C là 330.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo T5 phải trả ông Nguyễn Đình C 330.000.000 đồng là có căn cứ.

Đối với số tiền ông C góp vốn với bị cáo T5 và những người khác ông C có quyền yêu cầu giải quyết quyền lợi của ông bằng vụ án dân sự riêng khi có yêu cầu.

  • [3.4] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Quốc T2: quá trình giải quyết vụ án, ông T2 có góp tiền với T5 mua thửa đất số 181, thửa đất số 1121, thửa đất số 1122; tại Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 126/KLĐT-CSHS ngày 29/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T xác định: quá trình góp tiền mua bán các thửa đất giữa T5, T2, C, Q3 là thỏa thuận góp vốn kinh doanh. Đến nay, các thửa đất vẫn chưa được chuyển nhượng hoàn toàn, chưa có thiệt hại, vì vậy đây là quan hệ dân sự giữa các bên liên quan. Do đó, quyền lợi của ông T2 sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự riêng khi có yêu cầu.
  • [4] Với các phân tích tại mục [3], chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn L, bà Phan Thị S, bà Nguyễn Thị Thúy H1, bà Cung Thị L1 hủy Bản án hình sự sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự liên quan thửa đất số 246, thửa đất số 578 và số tiền truy thu của bà Nguyễn Thị Thúy H1 2.000.000.000 đồng để trả lại cho ông Lê Văn L, bà Phan Thị S. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Quốc T2, ông Nguyễn Đình C; quyền lợi của ông T2, ông C sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự riêng khi có yêu cầu.
  • [5] Những phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xem xét, có hiệu pháp luật.
  • [6] Về án phí: những người kháng cáo ông L, bà S, bà H1, bà L1 không phải chịu án phí theo quy định. Những người kháng cáo ông T2, ông C phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Văn L, bà Phan Thị S, bà Nguyễn Thị Thúy H1, bà Cung Thị L1; không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Quốc T2, ông Nguyễn Đình C.
  2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2025/HSST ngày 11/8/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Huế về phần trách nhiệm dân sự liên quan đến thửa đất số 246, thửa đất số 578 và số tiền truy thu 2.000.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thúy H1 để trả lại cho ông Lê Văn L, bà Phan Thị S.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử lại phần dân sự theo quy định.

  1. Về án phí phúc thẩm: người kháng cáo ông Lê Văn L, bà Phan Thị S, bà Nguyễn Thị Thúy H1, bà Cung Thị L1 không phải chịu. Những người kháng cáo ông Phan Quốc T2, ông Nguyễn Đình C mỗi người phải chịu án phí thẩm 300.000 đồng.
  2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao;
  • - Viện CT&KSXXPT tại Đà Nẵng;
  • - TAND thành phố Huế;
  • - Cơ quan CSĐT-Công an thành phố Huế;
  • - Phòng HSNV- Công an thành phố Huế;
  • - Cơ quan CSTHAHS-CA thành phố Huế;
  • - THADS thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Ngọc Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 251/2025/HS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 251/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger