Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 251/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29/5/2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Huy Viện và ông Võ Duy Bảo

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 29/5/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 274/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/6/2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1992. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú và làm việc tại: 1363-15 M (II) số B S, thành phố K, tỉnh Mie, Nhật Bản. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1979. Địa chỉ: xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1951 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1958. Cùng địa chỉ: xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày: Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/3/2010 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau khi chung sống một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống của hai người không hợp nhau. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, xung đột nên quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng, tình cảm vợ chồng bắt đầu đi xuống và không thể ở chung với nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Thời điểm chị Nguyễn Thị X làm đơn xin ly hôn thì chị X đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, hiện nay chị đã về Việt Nam. Nay chị Nguyễn Thị X thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.

Về con chung: vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/11/2010 và cháu Nguyễn Thị Vân C, sinh ngày 20/4/2013. Tại thời điểm làm đơn khởi kiện, hai con chung đang ở cùng anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị X đề nghị Tòa án giao hai con chung cho anh Nguyễn Anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, trước khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, chị Nguyễn Thị X đã về Việt Nam. Tại đơn trình bày đề ngày 22/5/2025, chị Nguyễn Thị X đề nghị được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Nguyễn Anh T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử, ... cho anh Nguyễn Anh T thông qua ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị L là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Anh T; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An nhưng hiện tại anh Nguyễn Anh T vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. biết về việc chị X làm đơn xin ly hôn. Thông qua ông bà, anh T trình bày anh không đồng ý ly hôn với chị X, về con chung: anh T đề nghị được nuôi cả hai con. Về tài sản chung và nợ chung: anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Trường hợp Tòa án giao con chung cho anh T nuôi thì ông bà đề nghị được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu cho đến khi bố mẹ cháu về.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị L trình bày: ông T1, bà L là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Anh T. Anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị X kết hôn với nhau năm 2010 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Anh T, chị X mâu thuẫn một thời gian thì gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị X làm đơn xin ly hôn với anh T thì ông bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Anh T có hai người con chung là cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/10/2010 và cháu Nguyễn Thị Vân C, sinh ngày 20/4/2013, hai cháu ở với ông bà từ nhỏ cho đến nay. Mọi chi phí nuôi cháu đều do bố mẹ cháu chu cấp. Ông, bà không có yêu cầu gì về chi phí nuôi cháu. Anh Nguyễn Anh T hiện đang đi làm ăn xa, vắng mặt tại địa phương, ông bà không biết địa chỉ của anh T để cung cấp cho Tòa án. Ông bà đã thông báo cho anh T biết về việc chị X làm đơn xin ly hôn. Thông qua ông bà, anh T trình bày anh không đồng ý ly hôn với chị X, về con chung: anh T đề nghị được nuôi cả hai con. Về tài sản chung và nợ chung: anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Trường hợp Tòa án giao con chung cho anh T nuôi thì ông bà đề nghị được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu cho đến khi bố mẹ cháu về.

Cháu Nguyễn Thị Vân C trình bày: cháu là con của mẹ Nguyễn Thị X và bố Nguyễn Anh T, hiện nay cháu đang ở với mẹ. Nếu bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ.

Cháu Nguyễn Trung H trình bày: cháu là con của mẹ Nguyễn Thị X và bố Nguyễn Anh T. Nếu bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được là với bố và ông bà nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Anh T. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Thị Vân C cho chị Nguyễn Thị X chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Trung H cho anh Nguyễn Anh T chăm sóc, nuôi dưỡng; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về chi phí nuôi cháu bà Phạm Thị L, ông Nguyễn Văn T1 không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị Nguyễn Thị X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại thời điểm Tòa án thu lý vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị X đang ở nước ngoài làm đơn khởi kiện có xác nhận của Đại sứ quán nước Việt Nam tại Nhật Bản. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Anh T đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Văn T1, bà Phạm Thị L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X, anh Nguyễn Anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian phát sinh mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, quan hệ vợ chồng căng thẳng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Chị X thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị X được ly hôn với anh T. Theo trình bày của ông Nguyễn Văn T1, bà Phạm Thị L thì anh Nguyễn Anh T không muốn ly hôn nhưng anh T cũng không gửi ý kiến, không liên hệ với Tòa án để yêu cầu hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ, cũng không có biện pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng, chị X kiên quyết yêu cầu ly hôn. Do đó, xét thấy, hôn nhân của chị X, anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.

[3] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/11/2010 và cháu Nguyễn Thị Vân C, sinh ngày 20/4/2013. Ly hôn, chị Nguyễn Thị X có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị X đang sinh sống, làm việc tại Nhật Bản nhưng đến thời điểm hiện tại chị X đã về Việt Nam, anh Nguyễn Anh T đang đi làm ăn xa nhưng vẫn có địa chỉ thường trú cụ thể. Chị X, anh T đều có thu nhập và nơi cư trú ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Hiện nay cháu Vân C đang ở với chị X, chú Trung H đang ở với ông bà nội là ông Nguyễn Văn T1, bà Phạm Thị L và anh Nguyễn Anh T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các con và đảm bảo quyền làm cha làm mẹ, cần giao cháu Nguyễn Thị Vân C cho chị Nguyễn Thị X chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Trung H cho anh Nguyễn Anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh Nguyễn Anh T đang đi làm ăn, giao cháu Nguyễn Trung H cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị L chăm sóc cho đến khi anh T về. Chị X, anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về chi phí nuôi cháu Nguyễn Trung H và cháu Nguyễn Thị Vân C: ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị L là người trực tiếp quản lý, chăm sóc các cháu khi bố mẹ cháu đi vắng và ông T1, bà L tự nguyện nhận trách nhiệm quản lý, chăm sóc cháu Trung H cho đến khi anh Nguyễn Anh T về địa phương. Ông Nguyễn Văn T1, bà Phạm Thị L không yêu cầu thanh toán chi phí chăm sóc cháu nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Nguyễn Anh T chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 37; 40; 147; 227; 228; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Vân C, sinh ngày 20/4/2013 cho chị Nguyễn Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Giao cháu Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/11/2010 cho anh Nguyễn Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Nguyễn Thị X, anh Nguyễn Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Trong thời gian anh Nguyễn Anh T vắng mặt tại địa phương, giao cháu Nguyễn Trung H cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh T trở về địa phương.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị X, anh Nguyễn Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về chi phí nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trung H, cháu Nguyễn Thị Vân C: ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012897 ngày 05/6/2024. Chị Nguyễn Thị X đã nộp đủ án phí.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nghĩa Hoàn, huyện Tân Kỳ;
  • - Lưu HSVA, Tòa GĐ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Huy Viện Võ Duy B Nguyễn Thị Thu T2
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 251/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 251/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN NGUYỄN THI X - NGUYỄN ANH T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger