TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 251/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 06 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Như Thuần.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Đạm;
- Bà Trần Thị Thanh Xuân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh, Thư ký Toà án nhân dân quận Phú Xuân, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thùy Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Xuân, thành phố Huế xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 25/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 98/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Ngọc Huyền, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ 5, khu vực 3, phường Thuận Lộc, quận Phú Xuân, thành phố Huế; có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Văn Vũ, sinh năm 1998; địa chỉ: 24 kiệt 3 Nguyễn Phúc Lan, phường Kim Long, quận Phú Xuân, thành Phố Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/12/2024 và các tài liệu, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Thị Ngọc Huyền trình bày:
Chị và anh Lê Văn Vũ tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Kim Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường Kim Long, quận Phú Xuân, thành phố Huế) vào ngày 27/5/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tại nhà cha mẹ của anh Vũ ở tại 24 kiệt 3 Nguyễn Phúc Lan, phường Kim Long, thành Phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường Kim Long, quận Phú Xuân, thành Phố Huế) cho đến tháng 9/2024. Trong thời gian chung sống, vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống dẫn đến mâu thuẫn, cãi vả kéo dài. Mâu thuẫn không giải quyết được nên từ tháng 9/2024 chị về nhà ngoại sống cho đến nay, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm đến nhau nữa. Hiện chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Văn Vũ.
Về con chung: Chị Huyền trình bày vợ chồng có 01 người con chung là cháu Lê Minh Huy, sinh ngày: 06/6/2020. Hiện cháu Huy đang ở với anh Vũ, chị Huyền chưa có chỗ ở ổn định nên chị yêu cầu giao cháu Huy cho anh Vũ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Huyền không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Huyền không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lê Văn Vũ: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con như đã trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phan Thị Ngọc Huyền được ly hôn với anh Lê Văn Vũ. Về con chung: Giao cháu Lê Minh Huy, sinh ngày 06/6/2020 cho anh Vũ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huyền không có yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Chị Phan Thị Ngọc Huyền khởi kiện ly hôn, yêu cầu giải quyết việc nuôi con với bị đơn anh Lê Văn Vũ. Anh Vũ có địa chỉ cư trú tại phường Kim Long, quận Phú Xuân, thành phố Huế. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Phú Xuân thụ lý để giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Ngọc Huyền và anh Lê Văn Vũ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Kim Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường Kim Long, quận Phú Xuân, thành phố Huế) vào ngày 27/5/2020. Thời điểm đăng ký kết hôn có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Ngọc Huyền, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Huyền yêu cầu ly hôn với anh Vũ với lý do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và thường xuyên xảy ra cải nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Lê Văn Vũ không có ý kiến phản hồi; chứng tỏ anh Vũ có ý thức bỏ mặc quan hệ hôn nhân của vợ chồng, không có thiện chí để hàn gắn quan hệ tình cảm. Xét thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng chị Huyền và anh Vũ đã sống ly thân từ tháng 9/2024 cho đến nay. Như vậy, cuộc hôn nhân giữa chị Huyền và anh Vũ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Ngọc Huyền được ly hôn với anh Lê Văn Vũ.
[2.3] Về con chung: Chị Phan Thị Ngọc Huyền và anh Lê Văn Vũ có 01 người con chung là cháu Lê Minh Huy, sinh ngày 06/6/2020. Xét thấy cháu Huy hiện đang do anh Vũ chăm sóc nuôi dưỡng và chị Huyền có nguyện vọng giao cháu Huy cho anh Vũ nuôi dưỡng, mặc khác chị Huyền trình bày anh Vũ có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng cháu; bản thân chị hiện nay chưa có công việc và chỗ ở ổn định; để đảm bảo điều kiện sinh hoạt, ổn định tâm lý của cháu, cần chấp nhận yêu cầu của chị Huyền để giao cháu Lê Minh Huy cho anh Vũ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi cháu thành niên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
1. Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Ngọc Huyền được ly hôn với anh Lê Văn Vũ. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Minh Huy, sinh ngày 06/6/2020 cho anh Lê Văn Vũ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi cháu Huy đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Phan Thị Ngọc Huyền phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001026 ngày 15/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân, thành phố Huế. Chị Huyền đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Như Thuần |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Trần Thị Thanh Xuân | Huỳnh Văn Đạm | Hoàng Thị Như Thuần |
Bản án số 251/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 251/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN, CON
