Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 251/2025/DS-ST

Ngày: 13-6-2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thanh Thủy.
  2. Ông Nguyễn Văn Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly – Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm Sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 606/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 114/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).

Địa chỉ trụ sở: 91 đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Phước Quỳnh G (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ liên lạc: Phòng số 401, Tầng D, Tòa nhà số G đường T, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Từ Thuận L, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: 3 đường H, Phường E (nay là Phường H), Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 15/03/2023, Công ty T (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký Hợp đồng tín dụng số: 4407524 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Từ Thuận L với khoản vay trị giá 21.540.000 đồng.

Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty T đã giải ngân tiền vay theo đúng thỏa thuận của hợp đồng tín dụng cho ông Từ Thuận L. Theo hợp đồng tín dụng, ông Từ Thuận L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng cho Công ty T trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 15/04/2023 đến ngày 15/03/2025. Tuy nhiên, ông Từ Thuận L chỉ thanh toán được 6.356.956 đồng gồm: Lãi trả 6.284.956 đồng; phí trả 72.000 đồng. Từ ngày 16/09/2023, ông Từ Thuận L đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân.

Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Từ Thuận L thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông Từ Thuận L biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông Từ Thuận L vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T. Do đó, Công ty T đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu ông Từ Thuận L thanh toán cho Công ty T số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 13/6/2025 là 44.691.062 đồng gồm: Nợ gốc là 21.540.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.641.663 đồng, nợ lãi quá hạn là 12.337.099 đồng, nợ lãi chậm trả là 1.172.300 đồng.

Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, Công ty T còn yêu cầu ông Từ Thuận L phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất được quy định tại hợp đồng tín dụng số 4407524 ngày 15/03/2023.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn Công ty T yêu cầu ông Từ Thuận L trả nợ vay, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Từ Thuận L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng ông L không cung cấp chứng cứ, không đến Tòa án làm bản khai để phản bác yêu cầu của nguyên đơn, từ bỏ quyền lợi hợp pháp của mình, do đó Tòa án căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án. Mặt khác, ông L vắng mặt tại phiên hòa giải và nguyên đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay ông L vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét Giấy ủy quyền ngày 02/01/2024 của Công ty L1 Niềm Tin ủy quyền cho bà Nguyễn Phước Q Giao tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:

[2.2] Về tiền gốc: Xét thấy, Hợp đồng tín dụng số 4407524 ngày 15/03/2023 được ký kết giữa Công ty T với ông Từ Thuận L là hợp đồng vay tín chấp. Ông L vay 21.540.000 đồng của Công ty T để tiêu dùng cá nhân và có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T kỳ hạn, kể từ ngày 15/04/2023 đến ngày 15/03/2025.

Sau khi ký kết hợp đồng, ông L đã nhận đủ số tiền vay, tuy nhiên ông L vẫn chưa trả nợ gốc cho Ngân hàng. Căn cứ vào bản tự khai và các tài liệu chứng cứ do Công ty T cung cấp thì ông L còn phát sinh khoản nợ gốc với Công ty T là 21.540.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu đòi nợ gốc của nguyên đơn. Buộc ông Từ Thuận L phải trả cho Công ty T số tiền nợ gốc là 21.540.000 đồng.

[2.3] Xét yêu cầu về tiền lãi: Hợp đồng tín dụng số 4407524 ngày 15/03/2023, Công ty T thỏa thuận với ông Từ Thuận L về mức lãi suất vay là 4,17%/tháng. Xét thấy, mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, mức lãi suất mà Công ty T áp dụng đối với ông L là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào bảng tính lãi do Công ty T cung cấp thì tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 13/6/2025, ông Từ Thuận L còn nợ Công ty T các khoản tiền lãi sau đây: Lãi trong hạn là 9.641.663 đồng, lãi quá hạn là 12.337.099 đồng, lãi chậm trả là 1.172.300 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu đòi tiền nợ lãi của nguyên đơn. Buộc ông Từ Thuận L phải trả cho Công ty T các khoản tiền lãi tính đến ngày 13/6/2025 gồm: Lãi trong hạn là 9.641.663 đồng, lãi quá hạn là 12.337.099 đồng, lãi chậm trả là 1.172.300 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn Công ty T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 463, Điều 465 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

  1. Chấp nhận toàn bô yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Từ Thuận L có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) số tiền 44.691.062 đồng (bốn mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi mốt nghìn không trăm sáu mươi hai đồng) gồm: Nợ gốc là 21.540.000 đồng (hai mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng), nợ lãi trong hạn là 9.641.663 đồng (chín triệu sáu trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng), nợ lãi quá hạn là 12.337.099 đồng (mười hai triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn không trăm chín mươi chín đồng), nợ lãi chậm trả là 1.172.300 đồng (một triệu một trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất được quy định tại hợp đồng tín dụng số 4407524 ngày 15/03/2023.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Từ Thuận L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.234.553 đồng (hai triệu hai trăm ba mươi tư nghìn năm trăm năm mươi ba đồng).

Công ty T (Việt Nam) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 733.390 đồng (bảy trăm ba mươi ba nghìn ba trăm chín mươi đồng) theo biên lai thu tiền số 0075004 ngày 26/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) và bị đơn ông Từ Thuận L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 10;
  • - Chi cục THADS Quận 10;
  • - Các đương sư;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Xuân Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 251/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 251/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger