Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 251/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/7/2024

Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng, bà Nguyễn Thị Bích Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 258/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/5/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 212/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Người được chị L ủy quyền giao, nhận văn bản: Chị Lương Thị Y, sinh năm 2000. Địa chỉ liên hệ: Số H N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quyết Đ, sinh năm 1992.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Nơi ở hiện nay: Liên Bang N.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Quyết Đ tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 10/01/2020. Vợ chồng sống cùng nhau được khoảng một tháng thì anh Đ sang L Nga làm ăn. Tháng 9/2021, chị sang Liên Bang N đoàn tụ và phụ giúp việc kinh doanh với anh Đ. Tuy nhiên do bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế nên vợ chồng thường xảy ra va chạm, to tiếng. Số lần vợ chồng mâu thuẫn ngày càng nhiều và ngày càng trầm trọng nhưng không có biện pháp khắc phục làm tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Tháng 8/2022, chị quay về Việt Nam sinh sống ổn định cho tới nay. Tháng 6/2023, anh Đ có về Việt Nam chơi một tháng nhưng vợ chồng không chung sống hòa hợp được và khi xảy ra mâu thuẫn thì anh Đ còn có hành vi bạo lực với chị. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh Đ.

Chị và anh Đ có 01 con chung là Nguyễn Minh K - sinh ngày 22/01/2023. Chị đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho tới khi thành niên và tự nguyện không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.

Ông Nguyễn Văn C là bố đẻ của anh Nguyễn Quyết Đ phản ánh: Vợ chồng anh Đ và chị L ở với gia đình ông được khoảng hai tháng thì anh Đ quay lại Liên Bang N lao động. Năm 2021, chị L sang Liên Bang N đoàn tụ cùng anh Đ. Tháng 8/2022, chị L về Việt Nam để sinh con. Anh Đ và chị L có một con chung là Nguyễn Minh K - sinh ngày 22/01/2023. Thời gian ở cùng gia đình ông thì vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì. Thời gian vợ chồng sinh sống ở Liên Bang N có xảy ra mâu thuẫn gì không thì ông không nắm được. Khi được chị L nói chuyện về việc xin ly hôn anh Đ thì ông đã gọi điện thoại thông báo cho anh Đ biết và bảo anh Đ thu xếp công việc để về Việt Nam giải quyết việc của vợ chồng. Mặt khác ông đã trực tiếp khuyên bảo, động viên hai bên và đã gặp gỡ mẹ đẻ của chị L để tìm cách hòa giải cho vợ chồng. Nay chị L kiên quyết xin ly hôn thì ông cũng không có biện pháp nào khác để giúp vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp phải ly hôn thì ông đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Anh Đ thường xuyên gọi điện cho ông nhưng ông không biết địa chỉ sinh sống ở Liên Bang N của anh Đ nên không có thông tin để cung cấp cho Tòa án. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thay anh Đ và đã thông báo cho anh Đ biết.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Nguyễn Quyết Đ. Giao con chung là Nguyễn Minh K - sinh ngày 22/01/2023 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Buộc chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. [1] Về tố tụng:

    [1.1] Anh Nguyễn Quyết Đ đang sinh sống tại Liên Bang N. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh của anh Đ ở thôn L, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

    [1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

  2. [2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Quyết Đ tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương ngày 10/01/2020. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Chị L cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc do vợ chồng bất đồng quan điểm về làm ăn kinh tế dẫn đến thường xuyên xảy ra va chạm, to tiếng. Tuy anh Đ không gửi cho Tòa án văn bản ghi quan điểm về các nội dung liên quan đến vụ án nhưng thực tế vợ chồng đã sống ly thân một thời gian và dù đã được hai bên gia đình động viên, hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không có biện pháp đoàn tụ, không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau các vấn đề của cuộc sống. Nhận thấy hôn nhân giữa chị L và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị L kiên quyết xin ly hôn, anh Đ không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy cần xử cho chị L được ly hôn anh Đ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

  3. [3] Về con chung: Chị L và anh Đ có một con chung là Nguyễn Minh K - sinh ngày 22/01/2023. Hiện anh Đ không có mặt ở Việt Nam và cháu K còn nhỏ, cần có sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị L về việc giao cháu K cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chị L không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là tự nguyện nên được chấp nhận.

  4. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  5. [5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

3

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Quyết Đ.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Minh K - sinh ngày 22/01/2023 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh Nguyễn Quyết Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0000703 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị L đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
  4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Hồng Khê, huyện Bình Giang,
  • tỉnh Hải Dương (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Thị Phương Thúy

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 251/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 251/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị L xin ly hôn anh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger