Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 251/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09/9/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Văn Đức

Ông Nguyễn Bình Dương

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 09/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 139/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/6/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Luyện Huy H, sinh năm 1984 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm Đ, thôn Q, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú cuối cùng của chị G tại Việt Nam: Xóm Đ, thôn Q, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Chị G hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, anh Luyện Huy H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị G kết hôn ngày 27/9/2018 và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Y. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Năm 2020 chị G đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản từ đó không về nước. Từ đó vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp với nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng xa cách, bất đồng với nhau về quan điểm sống. Đến nay giữa anh và chị G không còn liên lạc với nhau, chị G cũng không cho anh địa chỉ của chị G ở nước ngoài. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị G.

- Về con chung, tài sản chung và công nợ: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là chị Nguyễn Thị G hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị G đến nay Tòa án không nhận được thông tin của chị G.

Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của chị G là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1960; địa chỉ: thôn P, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang, bà có ý kiến trình bày như sau: bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị G, chị G hiện đang lao động tại Nhật Bản. Gia đình bà vẫn thường xuyên liên hệ với chị G qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của chị G ở nước ngoài. Bà có thông báo cho chị G việc anh H khởi kiện ly hôn thì chị G có ý kiến đồng ý ly hôn, vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, do chị G ở nước ngoài nên không về nước làm việc được.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, anh H xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị G vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Luyện Huy H. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Luyện Huy H được ly hôn với chị Nguyễn Thị G.

Về con chung, tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: anh Luyện Huy H được miễn án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Luyện Huy H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn đối với chị Nguyễn Thị G. Bị đơn chị Nguyễn Thị G có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 13455/QLXNC-P3 ngày 25/6/2024 của Cục Q thì chị G đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 12/4/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn chị Nguyễn Thị G được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Anh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị V là mẹ đẻ của chị G xác định hiện chị G đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của chị G ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị G theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Luyện Huy H và chị Nguyễn Thị G đăng ký kết hôn ngày 27/9/2018 tại UBND xã Q, huyện Y, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với chị G. Xem xét đơn khởi kiện của anh H, HĐXX thấy: anh H xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và không liên lạc với nhau. Chị G hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, anh H xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, xử cho anh H được ly hôn với chị G.

[4]. Về con chung: Anh H xác định vợ chồng không có con chung, không đề nghị nên không đặt ra xem xét.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): anh H không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Luyện Huy H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Luyện Huy H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Luyện Huy H được ly hôn chị Nguyễn Thị G.
  2. Về án phí: Anh Luyện Huy H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001227 ngày 03/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • - Chị Nguyễn Thị G hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Anh Luyện Huy H cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Quỳnh Sơn, huyện Yên Dũng;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 251/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 251/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hùng ly hôn GIang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger