|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 251/2024/DS-ST Ngày: 26/8/2024. V/v: Tranh chấp HĐ tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Thành Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Văn Công Minh.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 132/2024/TLST-DS ngày 19/4/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1199/2024/QĐXXST-DS ngày 08/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1359/2024/QĐST-DS ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Địa chỉ: B - B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1), người đại diện theo ủy quyền: ông Thân Lê N theo Giấy ủy quyền số 936/2024/UQ-TGĐ ngày 19/01/2024.
Bị đơn: Bà Đặng Thu N1, sinh năm 1985.
Địa chỉ cư trú: 63A tổ B, ấp A, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày:
Ngày 07/06/2021, Bà Đặng Thu N1 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 29.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau:
| Loại thẻ | Số thẻ | Hạn mức (đồng) | Ngày ký hợp đồng | Lãi suất áp dụng/tháng |
|---|---|---|---|---|
| Visa Platinum | 4364389290 | 29,000,000 | 07/06/2021 | 2.48%/tháng |
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Đặng Thu N1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 55.776.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Đặng Thu N1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 54.296.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Đặng Thu N1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Đặng Thu N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/4/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 9.949.940 đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất quá hạn là 3.72%/tháng (lãi suất trong hạn 2.48% x 150%) (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với Bà Đặng Thu N1, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà Đặng Thu N1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Ngân hàng đề nghị Tòa án:
Buộc Bà Đặng Thu N1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2024 là 16.235.072đồng(Mười sáu triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn không trăm bảy mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 9.949.940đồng. Lãi quá hạn: 6.285.132đồng.
Buộc Bà Đặng Thu N1 thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bà Đặng Thu N1 vắng mặt, không có lời trình bày.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn có bản tự khai ngày 26/8/2024 và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Các đương sự không có thỏa thuận gì với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn đã không có mặt đầy đủ theo sự triệu tập của Tòa án là vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Đề nghị Tòa án căn cứ Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Quan điểm giải quyết vụ án: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị đơn có trách nhiệm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết với nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các quy định của pháp luật, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn bà Đặng Thu N1 có nghĩa vụ hoàn trả ngay toàn bộ số nợ tạm tính đến hết ngày 26/8/2024 số tiền là: 16.235.072đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng. Hội đồng xét xử xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Đặng Thu N1 đang cư trú tại F, tổ B, ấp A, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về tư cách tham gia tố tụng của các đương sự: Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định như sau:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S là người khởi kiện, tham gia với tư cách là nguyên đơn. Bà Đặng Thu N1 tham gia với tư cách là bị đơn trong vụ án.
Đối với việc vắng mặt của bà Đặng Thu N1, xét thấy: Đương sự đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đương sự vẫn vắng mặt nhiều lần không có lý do. Ngoài ra, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn bà Đặng Thu N1 theo quy định.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 07/06/2021, Bà Đặng Thu N1 có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, hạn mức tín dụng là: 29.000.000₫ với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Đặng Thu N1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 55.776.000đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Đặng Thu N1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 54.296.000đồng(chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ngoài ra, không thanh toán thêm khoản tiền nào, do bà Đặng Thu N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 06/4/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là: 9.949.940đồng sang nợ quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất quá hạn là 3.72%/tháng(lãi suất trong hạn 2.48% x 150%) (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Bà Đặng Thu N1 vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2024 là 16.235.072đồng(Mười sáu triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn không trăm bảy mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 9.949.940đồng. Lãi quá hạn: 6.285.132đồng và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Đặng Thu N1 có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 26/8/2024 với tổng số tiền là: 16.235.072đồng(Mười sáu triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn không trăm bảy mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 9.949.940đồng. Lãi quá hạn: 6.285.132đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/8/2024 cho đến khi bà N1 trả dứt nợ.
Về phương thức thanh toán: Do bà Đặng Thu N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn thanh toán nên Hội đồng xét xử buộc bị đơn bà Đặng Thu N1 phải có trách nhiệm thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2;
Căn cứ Điều 12, Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảmNghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm
Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận do Ngân hàng N2 ban hành;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-
Buộc bị đơn bà Đặng Thu N1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm tính đến hết ngày 26/8/2024 là: 16.235.072đồng(Mười sáu triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn không trăm bảy mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 9.949.940đồng. Lãi quá hạn: 6.285.132đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/8/2024 cho đến khi bà N1 trả dứt nợ.
Về phương thức thanh toán: Buộc bà Đặng Thu N1 có trách nhiệm thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Đặng Thu N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 811.754đ(Tám trăm mười một nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 337.346₫(Ba trăm ba mươi bảy nghìn ba trăm bốn mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tiền số: 0017702 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
-
Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ tại địa phương nơi cư trú.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Thành Ngọc |
Bản án số 251/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hđ tín dụng
- Số bản án: 251/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU NGUYÊN ĐƠN
