|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2508/2024/DS-ST
Ngày: 17/6/2024.
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Chi
- 2/ Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1641/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 3439/2024/QĐST-DS ngày 27/5/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3440/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H).
Địa chỉ trụ sở: 25Bis và A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Tạ Thị Ngọc N, sinh năm 1985.
Địa chỉ: B N, phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền số 16.NGA/2023/GUQ-HDB076 ngày 10/8/2023).
2. Bị đơn: Bà Trần Ngọc T, sinh năm 1982.
Địa chỉ thường trú: số I đường H, tổ E, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: B Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Chung Trần Ngọc P, sinh năm 1978.
Địa chỉ thường trú: B Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 10 tháng 8 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H có bà Tạ Thị Ngọc N là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:
Ngày 04/8/2021, bà Trần Ngọc T có ký với Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng MasterCard số thẻ 5151 3111 1163 5170, với hạn mức sử dụng là 200.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, phương thức bảo đảm: tín chấp, lãi suất áp dụng theo biểu lãi suất thẻ tín dụng do Ngân hàng quy định từng thời điểm, tại thời điểm cấp thẻ, lãi trong hạn 28%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Số tiền thanh toán áp dụng tại bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng. Bà Trần Ngọc T bắt đầu sử dụng thẻ ngày 06/8/2021, đã thực hiện các giao dịch trong kỳ sao kê tháng 8 năm 2021 với tổng số tiền là 199.851.000 đồng. Bà Trần Ngọc T đã thanh toán 19 kỳ sao kê, đến kỳ sao kê tháng 2/2023 bà Trần Ngọc T không thực hiện thanh toán tiền nợ gốc 199.667.927 đồng và không thanh toán số tiền tối thiểu của sao kê, đến ngày 03/4/2023 bà Trần Ngọc T thanh toán 130.000 đồng, số tiền nợ gốc còn lại là 199.537.927 đồng. Và không tiếp tục thanh toán tiền nợ gốc và lãi nên ngày 03/6/2023 Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H đã chấm dứt việc sử dụng thẻ của bà Trần Ngọc T với số tiền nợ gốc là 199.537.927 đồng.
Về tiền lãi: ngày 30/01/2023 đến ngày 15/3/2023 tính trên số tiền 199.667.927đồng, (100.000.000 đồng x 44 ngày + 99.667.927 đồng x 43 ngày) x 28%/năm = 6.663.019 đồng; ngày 15/3/2023 đến ngày 03/4/2023 tính trên số tiền 199.937.000 đồng với lãi suất 28%/năm, từ ngày 03/4/2023 đến ngày 11/4/2023 tính trên số tiền 199.537.927đồng với lãi suất 28%/năm, từ ngày 11/4/2023 đến ngày 15/4/2023 tính trên số tiền 199.537.927đồng với lãi suất 33%/năm với số tiền là : 4.856.805 đồng, từ ngày 15/4/2023 đến ngày 17/6/2024 số tiền gốc 199.537.927 đồng với lãi suất 33%/năm là 77.784.354 đồng. Tổng cộng tiền lãi là: 89.304.178 đồng.
Về phí chậm thanh toán và phí vượt hạn mức: theo quy định tại Điều 14, Điều 15, Điều 16 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng do bà Trần Ngọc T đến hạn thanh toán nhưng không trả Ngân hàng có quyền tính phí vượt hạn mức theo biểu phí dịch vụ thẻ tín dụng là số tiền tối thiểu của các kỳ sao kê x 4% tính đến ngày 17/6/204 là 145.546.797 đồng và phí vượt hạn mức của kỳ sao kê từ tháng 2/2023 đến tháng 8/2023 với mức phí là 2.5% với số tiền: 3.901.372 đồng, phí thường niên theo quy định hàng năm mức phí là 440.000 đồng theo Quyết định số 402/2023/QĐ-TGĐ ngày 01/3/2023 về việc ban hành biểu phí dịch vụ thẻ cho khách hàng cá nhân.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà Trần Ngọc T thanh toán nhưng bà Trần Ngọc T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đã ký kết. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Ngọc T trả một lần cho Ngân hàng ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 17/6/2024 là: 438.730.274 đồng (trong đó nợ gốc là 199.537.927 đồng, tiền nợ lãi: 89.304.178 đồng, nợ phí phát sinh 149.888.169 đồng). Và bà Trần Ngọc T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi, phí phát sinh kể từ ngày 18/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Đại diện Ngân hàng được biết bà Trần Ngọc T có chồng là ông C Trần Ngọc P nhưng Ngân hàng xác định chỉ cho cá nhân bà Trần Ngọc T vay tiền, không liên quan đến người khác nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân bà Trần Ngọc T có trách nhiệm trả khoản nợ trên.
Bị đơn là bà Trần Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án giải quyết vụ kiện nhưng bà Trần Ngọc T đều vắng mặt không có lý do cũng như không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của bà Trần Ngọc T đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do bà Trần Ngọc T vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Chung Trần Ngọc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ kiện nhưng ông C Trần Ngọc P đều vắng mặt không có lý do cũng như không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của ông Chung Trần Ngọc P đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do ông C Trần Ngọc P vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: thụ lý đúng quy định theo thẩm quyền, vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng nội dung, thành phần xét xử, đúng thời gian, địa điểm. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H khởi kiện bị đơn bà Trần Ngọc T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, bị đơn có địa chỉ tại 9 đường E, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an phường T xác định bà Trần Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng hiện tại không còn cư trú. Như vậy, nguyên đơn đã ghi đúng đủ địa chỉ của bị đơn, việc bị đơn thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H biết theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Trần Ngọc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông C Trần Ngọc P đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên Tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Trần Ngọc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chung Trần Ngọc P.
[3] Về nội dung:
Bị đơn bà Trần Ngọc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chung Trần Ngọc P đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn bà Trần Ngọc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chung Trần Ngọc P vắng mặt không rõ lý do cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, bị đơn bà Trần Ngọc T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chung Trần Ngọc P đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3.1] Về yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H yêu cầu bị đơn bà Trần Ngọc T trả tiền nợ, Hội đồng xét nhận thấy:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 04/8/2021 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà Trần Ngọc T đã được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng MasterCard số thẻ 5151 3111 1163 5170, hạn mức sử dụng là 200.000.000 đồng. Sau khi được cấp thẻ bà Trần Ngọc T đã thực hiện các giao dịch, đến ngày 17/6/2024 bà Trần Ngọc T còn nợ lại số tiền nợ gốc 199.537.927 đồng. Do bà Trần Ngọc T không tiếp tục thanh toán tiền nợ gốc và lãi nên ngày 03/6/2023 Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H đã chấm dứt việc sử dụng thẻ của bà Trần Ngọc T với số tiền nợ gốc là 199.537.927 đồng. Xét, việc thực hiện giao dịch tín dụng trên của bà Trần Ngọc T là tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật. Việc bà Trần Ngọc T không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đã vi phạm Điều 6 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu bà Trần Ngọc T trả số tiền nợ gốc 199.537.927 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Về tiền lãi, phí: Theo quy định tại Điều 4 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng và bà Trần Ngọc T: “lãi suất áp dụng theo biểu lãi suất thẻ tín dụng và biểu phí dịch vụ thẻ do Ngân hàng quy định tùy từng thời điểm”, tại thời điểm cấp thẻ lãi suất 28%/năm, từ tháng 4/2023 cho đến nay mức lãi suất 33%/năm. Theo quy định tại Điều 14, Điều 15, Điều 16 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng: “Nếu đến hạn thanh toán chủ thẻ không trả hoặc trả số tiền nhỏ hơn giá trị thanh toán tối thiểu mà Ngân hàng yêu cầu chủ thẻ sẽ chịu mức phí chậm thanh toán theo quy định của ngân hàng tính trên phần trị giá thanh toán tối thiểu chưa thanh toán; ...nếu số dư cuối kỳ vượt quá hạn mức tín dụng đã được cấp cho chủ thẻ vào thời điểm đó thì Ngân hàng có quyền tính phí vượt hạn mức theo biểu phí dịch vụ thẻ tín dụng...”. Do bà Trần Ngọc T không thanh toán nên Ngân hàng tính phí chậm thanh toán là số tiền tối thiểu của các kỳ sao kê x 4% tính đến ngày 17/6/2024 là 145.546.797 đồng và phí vượt hạn mức của kỳ sao kê từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023 với mức phí là 2.5% với số tiền: 3.901.372 đồng, phí thường niên theo quy định hàng năm mức phí là 440.000 đồng theo Quyết định số 402/2023/QĐ-TGĐ ngày 01/3/2023 về việc ban hành biểu phí dịch vụ thẻ cho khách hàng cá nhân là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp quy định với các quy định của Ngân hàng N1 về việc cho vay của tổ chức tín dụng thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tại Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà Trần Ngọc T trả số tiền nợ lãi: 89.304.178 đồng, nợ phí phát sinh 149.888.169 đồng là có cơ sở chấp nhận.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Ngọc T phải chịu tiền án phí sơ thẩm 21.549.211 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 189, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng vào Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
- Về án phí: Bà Trần Ngọc T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 21.549.211 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Buộc bà Trần Ngọc T có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền nợ cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H tính đến ngày 17/6/2024 là 438.730.274 đồng (trong đó nợ gốc là 199.537.927 đồng, lãi và phí phát sinh: 239.192.347đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 04/8/2021 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Trả một lần cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Trần Ngọc T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi, phí mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H thì lãi suất mà bà Trần Ngọc T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.133.426đồng theo B lại thu số 0006077 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự;
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Nhung |
Bản án số 2508/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 2508/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCHDVTS
