TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 250/2023/HNGĐ-ST Ngày 29-11-2023 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Hiển;
Bà Nguyễn Thị Liên.
Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 29/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 201/2023/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/11/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Út H, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Đ, thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Đ, thôn T, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/10/2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Út H trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Trần Quốc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 25/6/2018. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Trần Bảo T1, sinh ngày 12/10/2021, hiện nay con đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Bà làm nghề may, thu nhập bình quân 6.000.000 đồng/tháng. Đến cuối năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 9 năm 2023 thì bà cùng con về nhà mẹ đẻ ở thôn V, xã Â, huyện H sinh sống cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cãi vã kéo dài, tính cách không hợp. Cả hai đã ngồi lại để hòa giải cứu vãn cuộc hôn nhân nhưng không thành. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Quốc T.
Về con chung: Bà yêu cầu nuôi con Trần Bảo T1, sinh ngày 12/10/2021; đồng ý để ông T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Trần Quốc T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/10/2023 và các lời khai tại Tòa án, bị đơn ông Trần Quốc T trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Út H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 25/6/2018. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Trần Bảo T1, sinh ngày 12/10/2021, hiện nay con đang được bà H nuôi dưỡng ổn định. Ông làm nghề lái xe, thu nhập bình quân 8.000.000 đồng/tháng. Đến cuối năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà H chuyển về nhà mẹ đẻ từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, tính cách không hợp. Cả hai đã ngồi lại để hòa giải cứu vãn cuộc hôn nhân nhưng không thành. Nay bà Nguyễn Thị Út H yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Đồng ý giao con chung tên Trần Bảo T1, sinh ngày 12/10/2021 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng; tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông và bà Nguyễn Thị Út H không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị Út H và ông Trần Quốc T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Út H được ly hôn ông Trần Quốc T.
Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Trần Bảo T1, sinh ngày 12/10/2021 cho bà Nguyễn Thị Út H tiếp tục nuôi dưỡng; chấp nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi của ông Trần Quốc T.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Út H có đơn yêu cầu ly hôn ông Trần Quốc T. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Trần Quốc T có hộ khẩu thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Út H và ông Trần Quốc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 25/6/2018 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Trần Bảo T1, sinh ngày 12/10/2021, hiện nay con đang được bà H nuôi dưỡng ổn định. Đến cuối năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 9 năm 2023 thì bà H cùng con về nhà mẹ đẻ ở thôn V, xã Â, huyện H sinh sống cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cãi vã kéo dài, tính cách không hợp.
Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị Út H và ông Trần Quốc T mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ đã không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung: Tại Tòa bà H yêu cầu nuôi con chung tên Trần Bảo T1, sinh ngày 12/10/2021, cháu T1 hiện đang được bà H nuôi dưỡng ổn định, yêu cầu đó đã được ông T chấp nhận nên Hội đồng xét xử cần công nhận việc thỏa thuận nuôi con giữa bà H, ông T là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Quốc T tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi và đã được bà H chấp nhận, nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của ông T.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Út H và ông Trần Quốc T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Út H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; ông Trần Quốc T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 235; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Bà Nguyễn Thị Út H được ly hôn ông Trần Quốc T.
- Về con chung: Giao con chung tên Trần Bảo T1, sinh ngày 12/10/2021 cho bà Nguyễn Thị Út H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Quốc T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Trần Quốc T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng, từ tháng 12 năm 2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Út H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0006616, ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân; ông Trần Quốc T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.
- Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hồng Nam |
Bản án số 250/2023/HNGĐ-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 250/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Nguyễn Thị Út Hiền, sinh năm 2000; địa chỉ: Đội 10, thôn Thế Thạnh 1, xã Ân Thạnh, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Bị đơn: Trần Quốc Toàn, sinh năm 1993; địa chỉ: Đội 10, thôn Thế Thạnh 1, xã Ân Thạnh, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định
