Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 250/2024/HS-ST

Ngày 23 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Linh Thu Hồng

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan.

Bà Nguyễn Thị Kim Yến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Như Nên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 190/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Thông báo về việc dời lịch xét xử vụ án hình sự số 321/2024/TB-TA ngày 14 ngày 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

Phạm Nhật T (tên gọi khác: Tú V), sinh năm 1990 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 27A/4, tổ C, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: 327A/4, tổ C, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Nhật T1 và bà Vũ Thị Minh H; Bị cáo có vợ tên Lê Nguyễn Thanh T2, có 01 con sinh năm 2020.

Nhân thân:

  • + Ngày 08/11/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 661/2007/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 17/01/2009). Đã đóng án phí ngày 20/02/2008.
  • + Ngày 28/12/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 607/2010/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 15/01/2013). Đã đóng án phí ngày 14/3/2011.
  • + Ngày 09/02/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 69/2015/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 29/01/2018). Đã đóng án phí ngày 08/4/2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ từ ngày 07/10/2023 đến ngày 13/10/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Nguyễn Minh T3 (tên gọi khác: Tâm C), sinh năm 1994 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 28/23, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: 28/23, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Phan Thị Ánh N; Bị cáo chưa có vợ con.

Nhân thân:

  • + Ngày 14/4/2013, bị UBND thành phố B ra Quyết định số 2364/QĐ-UBND đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 (hai mươi bốn) tháng tại Trung tâm giáo dục Lao động - Xã hội tỉnh Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + Ngày 28/6/2023, bị UBND phường H, thành phố B ra Quyết định số 178/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý đối với Nguyễn Minh T3 tại phường H thời hạn 01 (một) năm về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 01/7/2023, bị UBND phường H ra Quyết định số 180/QĐ-UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thời hạn từ 01/7/2023 đến ngày 01/01/2024.

Tiền án:

  • + Ngày 20/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 569/2016/HSST (bị cáo chấp hành xong ngày 26/4/2018). Đã đóng án phí ngày 20/01/2017.
  • + Ngày 18/01/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 06 (sáu) tháng 09 (chín) ngày tù và phạt bổ sung 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 39/2019/HSST (bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa đóng án phí và nộp phạt bổ sung).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ từ ngày 07/10/2023 đến ngày 13/10/2023 chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh L1, sinh năm 1980;
  2. Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

  3. Bà Đặng Thị Bích H1, sinh năm 1995;
  4. Địa chỉ: Nhà số B, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  5. Ông Đỗ Đức L2, sinh năm 1996;
  6. Địa chỉ: Nhà số B, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1962;
  2. Anh Vũ Đình P, sinh năm 1990;
  3. Cùng địa chỉ: Số B, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  4. Chị Huỳnh Thị Tuyết N1, sinh năm 1982;
  5. Địa chỉ: Số M, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  6. Anh Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1987;
  7. Địa chỉ: Số B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo T, bị cáo T3 có mặt; Bị hại và người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Nhật T, Nguyễn Minh T3 và Nguyễn Thiện  là bạn quen biết nhau. Để có tiền tiêu xài, từ ngày 05/10/2023 đến ngày 06/10/2023, T,  và T3 cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 14 giờ ngày 05/10/2023, Â rủ T đi trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài, T đồng ý. Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 05/10/2023, Â giao xe mô tô hiệu Sirius 60B1-413.78 cho T điều khiển chở Â đi đến khu vực phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để trộm cắp. Khi đến trước nhà thuộc tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (do anh Nguyễn Thế T5 làm chủ), T và T3 phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Future biển số 67K1-617.12 của chị Nguyễn Thị Thanh L1 (sinh năm 1980, ngụ tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang) đang dựng trước hiên nhà anh T5 không có người trông coi. T ngồi trên xe nổ máy chờ sẵn, cảnh giới, Â xuống xe lén đi đến dùng đoạn sắt chữ L (đoạn sắt dài khoảng 07cm, đầu dẹp, gắn vào cờ lê bằng sắt hình chữ L) bẻ phá khóa xe mô tô Future biển số 67K1-617.12. Sau đó Â ngồi lên xe mô tô biển số Future 67K1-617,12 nổ máy điều khiển bỏ chạy thì chị L1, anh T5 phát hiện chạy đuổi theo tri hô nhưng không đuổi kịp. Sau khi chiếm đoạt được xe của chị L1, Â và T điều khiển xe chạy đến nhà của Vũ Đình P (sinh năm 1990, ngụ tại B, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Lúc này P không có nhà và có Nguyễn Hoàng H2 (sinh năm 1987, đăng ký thường trú tại số B, tổ A, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) ở tại nhà P. Ân, T cất giấu xe mô tô biển số Future 67K1-617.12 trong phòng khách. Sau đó, Â tráo biển số xe Future 67K1-617.12 gắn sang xe mô tô Sirius biển số 60B1- 413.78 và để xe lại nhà P và T đi về nhà của T ở số B, tổ C khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Cùng ngày, chị L1 đến Công an phường T, thành phố B trình báo vụ việc trên.

Vụ thứ hai:

Khoảng 23 giờ cùng ngày, T điều khiển xe Future, gắn biển số 60B1-413.78 chạy đến khu vực nhà thờ “P", phường H, thành phố B để chơi thì gặp T3. T điều khiển xe F chở T3 đi trộm chim cảnh nhưng chưa trộm được thì Â gọi điện thoại cho T nói đến khu vực sân bóng thuộc khu phố F, phường T đón Â. T, T3 chạy xe đến điểm hẹn đón Â. Sau đó, T điều khiển xe F chở T3, Â chạy về nhà. Trên đường đi về đến trước khu nhà trọ số B, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì Â thấy có nhiều xe mô tô đang dựng trước cửa các phòng trọ, các phòng trọ đã khóa cửa đi ngủ. Ân rủ T, T3 trộm cắp các xe mô tô để trong dãy trọ nêu trên, tất cả đồng ý.

 và T3 xuống xe đi vào khu nhà trọ trên, quan sát thấy cửa cổng khóa. T chở  đi tìm dụng cụ bẻ khóa cổng. Đi được khoảng 100 mét thì  xuống xe nhặt 01 thanh sắt hình trụ kích thước khoảng 30cmx01cm cùng với T quay lại khu nhà trọ trên. T ngồi trên xe cảnh giới, T3 đứng trước cổng còn  vào khu trọ dùng thanh sắt bẻ khóa cổng, sau đó lẻn vào trong khu nhà trọ lấy móc phơi quần áo bằng kẽm buộc chặt các khoen cửa bên ngoài phòng trọ của chị Đặng Thị Bích H1 (sinh năm 1995, đăng ký thường trú tại 53/TQ, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre) và phòng trọ anh Đỗ Đức L2 (sinh năm 1996, đăng ký thường trú tại thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam). Sau đó  dùng thanh sắt bẻ khóa, dắt trộm xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 49B1-260.62 của anh Đỗ Đức L2 mang ra ngoài cổng giao cho T3. Ân tiếp tục lẻn vào khu trọ dùng thanh sắt bẻ khóa và dắt xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 71C2-370.38 của chị H1 mang ra trước cổng. Ân khởi động xe mô tô Vision biển số 71C2- 370.38 nhưng xe này không nổ máy. Lúc này T điều khiển xe Future, T3 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 49B1-260.62 thay nhau đẩy xe Vision (Ân ngồi trên xe) về nhà của P. Lúc này, P đi vắng, Nguyễn Hoàng H2 ở tại nhà P đi ra mở cửa cho T, T3,  đem 02 xe mô tô vừa trộm được của anh L2, chị H1 vào phòng khách cất giấu. Sau đó,  ở lại nhà P còn T điều khiển xe mô tô Future (trộm cắp của chị L1) chở T3 đến thuê phòng tại khách sạn "" số G, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để ngủ.

Đến 06 giờ ngày 06/10/2023, T lấy xe Future chở T3 quay lại nhà P. Tại đây, T, T3 tháo biển số xe F và tháo biển số xe mô tô Airblade biển số 49B1-260.62 đánh tráo sang nhau để tránh bị phát hiện. Còn  lấy xe mô tô Vision biển số 71C2- 370.38 mang đi đâu không rõ. Sau đó, T3 điều khiển xe A (gắn biển số xe 60B1- 413.78) còn T điều khiển xe mô tô Future (gắn biển số 49B1-260.62) đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Xuân T4 (sinh năm 1987, đăng ký thường trú tại 2, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) ở khu tái định cư K, phường T, thành phố B, Đồng Nai và gửi lại nhờ anh T4 sửa chữa (anh T4 không biết xe này do trộm cắp mà có). Sau đó, T điều khiển xe mô tô Future (gắn biển 49B1-260.62) chở T3 quay lại khách sạn “Minh K1” thuê phòng để nghỉ.

Đến 14 giờ cùng ngày, trong lúc T, T3 đang thuê phòng số 6-Khách sạn " thì Công an phường T, thành phố B kiểm tra hành chính phát hiện xe mô tô Future, gắn biển số 49B1-260.62 do T, Ân trộm cắp của chị L1 vào ngày 05/10/2023 nên bắt giữ T, T3 cùng tang vật. Sau đó, Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Cùng ngày, Công an phường T tuần tra phát hiện xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 71C2-370.38 (do nhóm T, T3, Â trộm cắp, bên trong cốp xe có giấy chứng nhận đang ký xe và căn cước công dân của chị Đặng Thị Bích H1) để tại nghĩa trang G, thuộc khu phố F, phường T, thành phố B nên thu giữ bàn giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý. Anh Nguyễn Xuân T4 giao nộp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, gắn biển số 60B1-413.78 do T, T3 gửi tại tiệm sửa xe của anh T4 nhờ sửa chữa.

Quá trình điều tra, Phạm Nhật T và Nguyễn Minh T3 khai nhận hành vi phạm tôi như trên. Riêng Nguyễn Thiện  sau khi phạm tội đã bỏ trốn.

Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu xanh, số máy JC76E0142223, số khung 7615GZ094645 (biển số 67K1-617.12 chưa thu hồi được) đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Thanh L1.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 71C2-370.38, số máy JF58E0508866, số khung 5802EY623083 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 71C2-370.38 số 012585, 01 (một) CCCD số [...] mang tên Đặng Thị Bích H1 đã trả lại cho bị hại Đặng Thị Bích H1.
  • - 01 (một) xe mô tô Hoda Airblade biển số 49B1-260.62, số máy JF46E4083321, số khung RLHJF460XDY 538987 đã trả cho bị hại Đỗ Đức L2.
  • - Biển số 60B1-413.78 T khai là biển số xe của  mượn của Nguyễn Hoàng H2, kết quả xác minh biển số xe 60B1 -413.78 do chị Huỳnh Thị Tuyết N1 đứng tên, chị N1 khai vào năm 2019 chị mua xe sau đó bán lại cho người phụ nữ không rõ tên tuổi, không làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ biển số 60B1- 413.78 và tách ra làm rõ xử lý sau.
  • - 01 USB ghi nhận diễn biến vụ trộm ngày 05/10/2023 được trích xuất từ camera lắp đặt hiện trường thuộc tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên lưu hồ sơ vụ án.
  • - 01 USB ghi nhận diễn biến vụ trộm ngày 06/10/2023 do Công an phường H trích xuất từ camera lắp đặt tại khu vực cổng nhà trọ số B, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên lưu hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 535/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future biển số 67K1-617.12 trị giá 21.693.000đ (hai mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 536/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận:

  • + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 71C2-370.38, trị giá 19.493.500đ (mười chín triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn năm trăm đồng).
  • + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airbalde biển số 49B1-260.62, trị giá 24.594.000đ (hai mươi bốn triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn đồng).

Tổng trị giá là 44.087.500đ (bốn mươi bốn triệu không trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Thanh L1, chị Đặng Thị Bích H1 và anh Đỗ Đức L2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 209/CT-VKSBH ngày 05 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Phạm Nhật T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo Nguyễn Minh T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Phạm Nhật T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt:

Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Nhật T từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Minh T3 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng hình sự:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa, bị hại chị Nguyễn Thị Thanh L1, chị Đặng Thị Bích H1 và anh Đỗ Đức L2 và những người làm chứng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra bị hại và người làm chứng đã có lời khai. Ngày 14/5/2024, chị Nguyễn Thị Thanh L1, chị Đặng Thị Bích H1 và anh Đỗ Đức L2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt đã thể hiện rõ ý kiến của mình. Do vậy, việc vắng mặt của bị hại và người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng, lời khai của bị hại; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 05/10/2023, tại tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Phạm Nhật T và Nguyễn Thiện  đã có hành vi trộm cắp của chị Nguyễn Thị Thanh L1 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Future biển số 67K1- 617.12 trị giá 21.693.000đ (hai mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Vào ngày 06/10/2023, tại nhà trọ số B, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thiện  bàn bạc rủ Phạm Nhật T và Nguyễn Minh T3 thực hiện hành vi trộm cắp của chị Đặng Thị Bích H1 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 71C2-370.38 và của anh Đỗ Đức L2 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 49B1-260.62 với tổng trị giá 44.087.500đ (bốn mươi bốn triệu không trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Nguyễn Thiện  là người rủ rê và 02 lần trộm cắp tài sản, với tổng trị giá là 65.780.500đ (sáu mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi nghìn năm trăm đồng).

Phạm Nhật T 02 lần trộm cắp tài sản, với tổng trị giá là 65.780.500đ (sáu mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi nghìn năm trăm đồng).

Nguyễn Minh T3 01 lần trộm cắp tài sản, với tổng trị giá là 44.087.500đ (bốn mươi bốn triệu không trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Hành vi của bị cáo Phạm Nhật T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T3 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Các bị cáo đang độ tuổi lao động, không tu chí làm ăn mà nảy sinh lòng tham muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm thu lợi bất chính. Ngoài ra, các bị cáo còn có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính và bị Tòa án xét xử về các hành vi phạm tội nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt lại tiếp tục đi tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo được Nguyễn Thiện  trực tiếp rủ rê thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Phạm Nhật T phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Nhật T cung cấp tài liệu khám chữa bệnh thể hiện bị bệnh suy tim và bệnh tăng huyết áp đang uống thuốc điều trị nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu xanh, số máy JC76E0142223, số khung 7615GZ094645 (biển số 67K1-617.12 chưa thu hồi được) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Thanh L1 là đúng quy định.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 71C2-370.38, số máy JF58E0508866, số khung 5802EY623083 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 71C2-370.38 số 012585, 01 (một) CCCD số [...] mang tên Đặng Thị Bích H1 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị hại Đặng Thị Bích H1 là đúng quy định.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Hoda Airblade biển số 49B1-260.62, số máy JF46E4083321, số khung RLHJF460XDY 538987 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả cho bị hại Đỗ Đức L2 là đúng quy định.
  • - Biển số 60B1-413.78 T khai là biển số xe của  mượn của Nguyễn Hoàng H2, kết quả xác minh biển số xe 60B1 -413.78 do chị Huỳnh Thị Tuyết N1 đứng tên, chị N1 khai vào năm 2019 chị mua xe sau đó bán lại cho người phụ nữ không rõ tên tuổi, không làm thủ tục sang tên. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ biển số 60B1- 413.78 và tách ra làm rõ xử lý sau.
  • - 01 USB ghi nhận diễn biến vụ trộm ngày 05/10/2023 được trích xuất từ camera lắp đặt hiện trường thuộc tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và 01 USB ghi nhận diễn biến vụ trộm ngày 06/10/2023 do Công an phường H trích xuất từ camera lắp đặt tại khu vực cổng nhà trọ số B, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản nên lưu hồ sơ vụ án.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Thiện  có vai trò đồng phạm với với Phạm Nhật T và Nguyễn Minh T3, sau khi phạm tội đã bỏ trốn, qua xác minh  không có mặt tại nơi cư trú Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định truy nã và tách hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Thiện  tiếp tục điều tra và xử lý sau.

Đối với một số tài sản bị hại chị Đặng Thị Bích H1 và anh Nguyễn Công T6 (bạn trai chị H1) khai bị mất trộm nhưng chưa xác minh và điều tra được nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau.

Đối với Nguyễn Hoàng H2 có hành vi giao xe cho Nguyễn Thiện  sử dụng để làm phương tiện phạm tội và có hành vi mở cửa cho T,  và T3 cất giấu tài sản trộm cắp, do chưa làm việc được với H2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.

Đối với anh Nguyễn Xuân T4 không biết xe mô tô hiệu Honda Airbalde, gắn biển số 60B1-413.78 do Phạm Nhật T mang đến nhờ sửa chữa do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý là đúng quy định.

Đối với Vũ Đức P1 kết quả điều tra không đủ cơ sở chứng minh P1 chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều ra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Phạm Nhật T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Nhật T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Phạm Nhật T vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù nhưng được trừ vào thời gian tạm giam từ ngày 07/10/2023 đến ngày 13/10/2023.

Căn cứ khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T3 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2023.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Nhật T và bị cáo Nguyễn Minh T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh;
  • - Viện KSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan điều tra CA TP Biên Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Linh Thu Hồng

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 250/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 250/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Nhật Tú và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger