|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 250/2024/HS-ST
Ngày: 26-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thanh Nga
- Bà Lê Thị Kiều Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 251/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 328/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Anh T (tên gọi khác: Tuấn S), sinh năm: 1984 tại Bình Định; Địa chỉ: KV H, phường N, Tp Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị N; Vợ tên Đỗ Thị Mỹ N1 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 66/2019/HSST ngày 15/11/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 10 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo đang chấp hành án; có mặt.
* Bị hại: Ông Nguyễn Đình S1, sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ I, thôn X, xã P, Tp P, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
* Người làm chứng:
Ông Võ Ngọc G, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu phố B, phường L, Tp P, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
Ông Hồ Quang Hải D, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu phố C, phường H, Tp P, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
Ông Trần Kỳ M, sinh năm 1978, địa chỉ: Khu phố F, phường L, Tp P, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
Bà Lê Thị N2, sinh năm 1973, địa chỉ: Khu phố A, phường P, Tp P, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/8/2017, Nguyễn Đình S1 đang ngồi nhậu cùng với Võ Ngọc G và Hồ Quang Hài D1 tại quán N4 thuộc khu phố F, phường P, thành phố P thì D1 gọi điện rủ thêm Trần Kỳ M đến nhậu cùng. Khoảng 15 phút sau M có mặt để nhậu cùng mọi người. Trong lúc ngồi nhậu, M gọi điện rủ Nguyễn Anh T đến nhậu cùng thì T đồng ý. Khoảng 30 phút sau, T đi cùng với Lê Thị Thủy V, sinh năm 1995, trú tại phường B, thành phố P và D2 (chưa rõ nhân thân) đến ngồi nhậu chung. Trong lúc nhậu, giữa S1 và T xảy ra nâu thuẫn cãi nhau về chuyện cá độ bóng đá nên được mọi người can ngăn. Sau đó T, cùng V, D2 rời khỏi quán, sau khi chở V về nhà xong, T và D2 đi đến quán P2 thuộc khu phố F, phường P, thành phố P để chơi thì gặp một nhóm bạn khoảng 07 đến 08 người (T quen biết ngoài xã hội không rõ nhân thân) nên T đứng lại nói chuyện. Lúc này, do bực tức vì bị S1 chửi mắng tại quán nhậu Thanh N3 nên T đã nhờ những người bạn này đi đến quán N4 để đánh S1 trả thù thì cả nhóm đồng ý. Để thực hiện hành vi, T đi vào khu vực bếp của quán P tìm và lấy một con dao dài khoảng 60cm, bề ngang mặt lưỡi khoảng 20cm giấu vào người rồi cùng nhóm bạn đi đến quán N4 bằng phương tiện là xe ô tô loại xe 07 chỗ (xe ô tô của ai trong nhóm thì T không biết, T cũng không nhớ biển số xe). Khi đến quán N4, nhóm bạn của T đều bịt mặt và đeo khẩu trang cầm hung khí (dao, kiếm) bước xuống xe cùng với T xông vào quán (nơi S1 đang ngồi nhậu). Lúc này, S1, D1, G và M thấy T cùng nhóm bạn cầm hung khí trên tay xông vào quán nên bất ngờ đứng dậy. Tại đây, T cầm con dao bằng tay trái chạy đến gần S1 chém vào người S1 nhưng M đã dơ tay lên đỡ cho S1 thì bị trúng vào tay của M (bị rách da ở ngón cái bàn tay trái). Không dừng lại ở đó, T tiếp tục dùng dao chém anh S1 nhiều nhát vào người, T chỉ nhớ 01 nhát trúng vào tay và 01 nhát trúng vào Lưng, những những vị trí khác thì T không nhớ chính xác (do lúc này T cũng đã uống rượu say). Bị T chém, S1 bỏ chạy bị té ngã. Thấy S1 bị té ngã nên T không chém nữa rồi lên xe cùng nhóm bạn đi về.
Sau khi bị T chém gây thương tích ở vùng đầu, lưng, tay phải và tay trái thì S1 được D1 và G chở đến Bệnh viện Đ để cấp cứu. Về phía Trần Kỳ M trong quá trình can ngăn bị T chém làm rách da ở ngón cái của bàn tay trái nhưng do vết thương nhẹ nên M không nhập viện điều trị và không có yêu cầu xử lý đối với T.
Sau khi chém S1 gây thương tích, T bỏ trốn nên Cơ quan CSĐT - Công an thành phố P đã ra Quyết định truy nã bị can đối với T. Khi xác minh được biết T đang chấp hành án tại Trại giam X – Bộ C trong một vụ án khác thì Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với T. Qúa trình điều tra, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Tuy nhiên T khai không biết nhân thân, lai lịch của những người đi cùng T và không biết nguồn gốc của chiếc xe ô tô 07 chỗ mà T và đồng bọn đã sử dụng khi gây án là của ai. Qua làm việc với bà Lê Thị N2 là chủ quán N4 xác định xe ô tô 07 chỗ có liên quan đến nhóm người đến gây thương tích cho S1 có biển số xe là 86A-044.20. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô 86A-044.20 đứng tên chủ sở hữu là ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1974, trú tại khu phố H, phường P, thành phố P. Tháng 5/2016 ông L đã bán chiếc xe ô tô này cho ông Nguyễn Trường P1, sinh năm 1972, trú tại khu phố A, phường P, thành phố P. Sau khi mua xe, ông P1 đã bán lại cho bà Lê Thị Minh U, sinh năm 1993, trú tại: phường Đ, thành phố P vào tháng 3/2017 theo Hợp đồng uỷ quyền số công chứng số 0974 ngày 21/3/2017. Như vậy tại thời điểm xảy ra vụ án (ngày 08/8/2017) thì bà U được xác định là người có liên quan, tuy nhiên qua xác minh chưa xác định được nơi cư trú của bà U nên chưa làm việc được để làm rõ các tình tiết có liên quan.
Ngày 11/8/2017, Nguyễn Đình S1 có đơn xin giảm định thương tích và yêu cầu xử lý hình sự đối với những người đã gây ra thương tích cho S1.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 156/2018/TgT ngày 19/3/2018 của Trung tâm giám định Pháp y - Y khoa tỉnh B kết luận ông Nguyễn Đình S1 bị thương tích như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm, sẹo liền tốt, kích thước 03 x 02 cm. Vết sẹo do vật sắc tác động, chiều hướng tác động từ trên xuống.
- Sẹo vết thương phần mềm vùng lưng phải, sẹo liền xấu, kích thước 06 x 01 cm. Vết sẹo do vật sắc tác động, chiều hướng tác động từ sau ra trước.
- Vết thương 1/3 trên kéo dài xuống 1/3 giữa mặt trước cẳng tay trái: Đứt gân gấp nông sâu ngón I, II, III, IV, V bàn tay trái; đứt gân gấp cổ tay quay, trụ; đứt gân gan tay dài; đứt bó mạch thần kinh trụ, thần kinh giữa, động mạch quay cẳng tay trái; bong màng xương 1/3 giữa xương trụ trái đã được phẫu thuật khâu nối gân, mạch máu, thần kinh. Hiện teo cơ bàn tay trái; co rút các ngón II, III, IV, V bàn tay trái; hạn chế cử động các ngón; hạn chế cử động dạng, khép các ngón; vết thương liền sẹo xấu, kích thước: 12 x 0,5 cm. Vết thương do vật sắc tác động, chiều hướng tác động phụ thuộc vào tư thế tay trái của nạn nhân với vật gây thương.
- Vết thương vùng cẳng tay phải đã được điều trị tốt, hiện không để lại dấu vết.
- Hiện để cố tật teo cơ bàn tay trái và co rút các ngón II, III, IV, V bàn tay trái.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 30% (Ba mươi phần trăm).
3. Kết luận khác: không.
Vật chứng của vụ án: Đối với hung khí là con dao dài khoảng 60cm, sau khi chém S1 gây thương tích, T đã vứt con dao ở dọc đường trên đường đi về nhưng T không xác định được chính xác vị trí nên cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P không thu hồi được.
Tại bản Cáo trạng số 225/CT-VKSPT-HS ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết quyết định, truy tố bị cáo: Nguyễn Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu quan điểm xử lý về vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T, phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Anh T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Đề nghị áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp với hình phạt của Bản án số 66/2019/HSST ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định buộc bị cáo chấp hành.
Về phần dân sự: Do bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo không tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra bị cáo, bị hại và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, những người làm chứng nhưng bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt; bị hại và những người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử; đồng thời bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/8/2017 tại quán N4 thuộc khu phố F, phường P, Tp P, tỉnh Bình Thuận, do có mâu thuẫn với Nguyễn Đình S1 nên Nguyễn Anh T đã rủ nhóm đối tượng khoảng 07 đến 08 người (không rõ nhân thân) đi trên xe ô tô loại 07 chỗ, cầm hung khí đến quán N4 tìm S1. Tại đây T có hành vi cầm con dao bằng tay trái chém vào người S1 nhưng Trần Kỳ M đã dơ tay lên đỡ cho S1 thì trúng vào tay của M, M bị rách da ở ngón cái bàn tay trái (M không yêu cầu giám định). T tiếp tục dùng dao chém S1 nhiều nhát trúng vào vùng đầu, tay phải, tay trái và lưng gây thương tích cho S1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30%.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương, bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc dùng dao là hung khí nguy hiểm để chém S1 là nguy hiểm nhưng vẫn cố ý thực hiện gây ra thương tích cho người khác. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự. Giữa bị cáo và bị hại chỉ có mâu thuẫn nhỏ nhặt; nhưng bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho S1. Do đó bị cáo đã phạm tội với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự với tỷ lệ tổn thương cơ thể cho bị hại là 30% nên đã phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Theo hồ sơ vụ án thể hiện, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bà ngoại bị cáo được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Về nhân thân: Bị cáo đang chấp hành án 10 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 66/2019/HSST ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
[6] Trên cơ sở cân nhắc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử lý và áp dụng hình phạt tù tương xứng để giáo dục, răn đe bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống; đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh chống tội phạm.
[7] Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù của Bản án số 66/2019/HSST ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định nên cần phải áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành.
[8] Về phần bồi thường dân sự: Mặc dù bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Đối với nhóm đối tượng đi cùng T đến quán N4 để chém S1. Do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra Quyết định tách vụ án. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Nguyễn Anh T 03 (ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 10 (mười) năm tù tại bản án số 66/2019/HSST 15/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; Buộc bị cáo Nguyễn Anh T chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 13 (mười ba) năm tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/5/2019.
Căn cứ: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Quách Văn Hoàng |
Bản án số 250/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 250/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: THƯƠNG TÍCH
