Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 250/2024/DS-PT

Ngày: 15 - 11 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm

Các Thẩm phán:

Bà Đào Thị Huệ

Ông Cao Xuân Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ông Vũ Duyên Trường - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 199/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 297/2024/QĐ-PT ngày 21/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 275/2024/QĐ-PT ngày 31/10/2024, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1945; Địa chỉ: Tổ D, ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  3. Người làm chứng: Ông Lê Văn T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ E, ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
  4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Đức Đ là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Đức Đ trình bày: Vào ngày 05 tháng 01 năm 2021, bà Võ Thị T1, sinh năm 1936, địa chỉ: tổ F, ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có ký giấy ủy quyền cho ông Đ để làm hồ sơ thừa kế đối với quyền sử dụng đất của ông Lê Văn T2 (chồng bà T1) do ông T2 chết nhưng không để lại di chúc. Trong tổng diện tích đất của ông T2 thì có một phần quyền sử dụng đất của ông S (cụ thể: Thửa đất số 266 (118), tờ bản đồ số 28 (10), tại ấp B, xã H, huyện X) nên trước khi ông Đ và bà T1 ký giấy ủy quyền với nhau thì ông Đ được ông Lê Văn T (con út bà T1) chở đến nhà ông S. Tại nhà ông S, khi đó cũng có vợ ông S (ông Đ không biết tên) theo sự thỏa thuận bằng lời nói giữa đôi bên (ông Đ và ông S) khi ông Đ làm xong (được hiểu là vừa đo đạc, vừa làm thừa kế và vừa làm thủ tục chuyển nhượng) thì ông S sẽ bồi dưỡng cho ông Đ số tiền 5.000.000 đồng và trả luôn cho ông Đ các khoản phí, lệ phí mà ông Đ sẽ nộp. Cũng tại đây, ông Đ còn nói với ông S khi nào huyện (Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện X) xuống đo đất thì ông chịu khó đến chỉ ranh. Mặc dù trong giai đoạn này, ông Đ cũng đã yêu cầu ông S ký hợp đồng với ông Đ nhưng ông S nói “chú cứ yên tâm, chú làm xong là tôi sẽ gửi tiền cho chú đầy đủ, tôi không giựt tiền của chú đâu”. Vì vậy, đến khi huyện xuống đo đạc đất do thấy ông S đang làm rẫy gần đó nên ông Đ đã nhờ ông T gọi ông S đi qua chỉ ranh đất, ông S đã đi đến để chỉ ranh đất. Ngoài ra, quá trình làm các thủ tục cho bà T1 khi ông Đ đi ra ngoài huyện để nộp các loại phí, lệ phí theo quy định thì ông S cũng đi theo. Đến ngày 22 tháng 02 năm 2021, bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Như vậy, ông Đ đã thực hiện xong công việc theo thỏa thuận giúp ông S, tuy nhiên ông S không trả 5.000.000 đồng tiền bồi dưỡng như đã hứa và 700.000 đồng tiền phí, lệ phí các loại mà ông Đ đã nộp. Ông Đ xác định, ông S còn thiếu nợ ông Đ tổng số tiền là 5.700.000 đồng. Mặc dù, ông Đ đã nhiều lần nhắc nhở cũng như gặp ông S để yêu cầu ông S phải trả toàn bộ số tiền trên nhưng ông S cố tình không trả. Do đó, ông Đ yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn S phải trả tổng số tiền là 5.700.000 đồng cho ông Đ. Ngoài yêu cầu trên, ông Đ không có yêu cầu nào khác.

- Tại bản tự khai và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn S trình bày: Ông S không nhớ ngày, tháng ông Đ có mặt tại nhà của mình, chỉ biết ông Lê Văn T (con bà T1) chở ông Đ đến và cả hai người tự đi đến chứ ông S không mời cũng như không nhờ ai mời ông Đ đến. Khi hai bên gặp nhau (lúc này có mặt vợ ông S tên Nguyễn Thị H) thì ông Đ nói với ông S là thửa đất số 266 (118), tờ bản đồ số 28 (10), tại ấp B, xã H, huyện X của ông S có cấp chung vào trong sổ đất của ông Lê Văn T2 (chồng bà T1). Ông Đ nói với ông S như vậy và một số câu chuyện khác nhưng ông S không nhớ nội dung là gì, sau đó ông Đ và ông T rời đi ngay. Trong khoảng thời gian hai bên gặp mặt tại nhà ông S cũng như trong suốt thời gian ông Đ làm hồ sơ thừa kế cho bà T1 thì ông S không nói với ông Đ câu: “chú cứ yên tâm, chú làm xong là tôi sẽ gửi tiền cho chú đầy đủ, tôi không giựt tiền của chú đâu” hay “chú làm xong việc (hoàn thiện) thì tôi sẽ trả tiền cho chú đầy đủ”. Ngoài ra, ông S không có lời nói nào khác về việc hứa hẹn sẽ bồi dưỡng cho ông Đ số tiền 5.000.000 đồng và đồng ý trả thêm cho ông Đ số tiền phí, lệ phí mà ông Đ sẽ nộp; ông S cũng không ký kết với ông Đ bất kỳ thỏa thuận nào để ông Đ thay mặt ông S liên hệ cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 266 (118), tờ bản đồ số 28 (10), tại ấp B, xã H, huyện X cho ông S. Đối với việc ông S có mặt khi Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện X đến đo đất cho bà T1 là do thời điểm này ông S đang làm rẫy của mình ở gần đó nên ông T nhìn thấy và trực tiếp đi đến nhờ ông S qua đất của gia đình nhà ông T để chỉ ranh giúp nên ông S tự nguyện thực hiện. Ông S có đi với ông Đ ra ngoài huyện nhưng hôm đó ông S cùng nhiều người khác (ông không nhớ có bao nhiêu người và tên, tuổi, địa chỉ của từng người) đi chung nữa không riêng gì một mình ông S đi với ông Đ, mục đích đi đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện X để ông S nộp tiền đo đạc đất của gia đình ông S, không phải việc đi theo ông Đ là để nhờ ông Đ giúp. Do ông S không có bất kỳ thỏa thuận bằng lời nói (lời hứa) cũng như không ký kết văn bản nào với ông Đ về các nội dung liên quan đến thửa đất số 266 (118), tờ bản đồ số 28 (10), tại ấp B, xã H, huyện X và cho đến nay, thửa đất nói trên cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S mặc dù ông S vẫn là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng nên ông S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ.

- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc đã quyết định như sau:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức Đ đối với ông Phạm Văn S về việc “Tranh chấp Hợp đồng Dịch vụ”.

Ông Phạm Văn S không phải trả cho ông Nguyễn Đức Đ tổng số tiền 5.700.000 đồng (năm triệu bảy trăm nghìn đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

- Ngày 22/7/2024 nguyên đơn ông Nguyễn Đức Đ kháng bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án sơ thẩm, buộc ông Phạm Văn S phải trả cho ông Đ số tiền 5.700.000 đồng đúng theo lời giao ước giữa ông Đ và ông S.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Đ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Đ:

Nguyên đơn ông Nguyễn Đức Đ cho rằng ngày 05/01/2021, ông Đ và ông S có thỏa thuận ông Đ làm dịch vụ thủ tục giấy tờ về đất đai cho ông S thửa đất số 266, tờ bản đồ số 28, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo đó ông S thỏa thuận trả cho ông Đ số tiền 5.700.000 đồng, gồm 5.000.000 đồng tiền bồi dưỡng dịch vụ làm giấy tờ và 700.000 đồng tiền phí, lệ phí các loại, nhưng sau khi ông Đ thực hiện xong công việc thì ông S không trả tiền cho ông Đ theo thỏa thuận. Ông S không thừa nhận có việc thỏa thuận với ông Đ như yêu cầu khởi kiện của ông Đ và không chấp nhận yêu cầu của ông Đ. Ông Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận giữa ông Đ và ông S về thủ tục giấy tờ về đất đai với số tiền tổng cộng ông S phải trả cho ông Đ là 5.700.000 đồng nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ.

Từ nhận định trên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Đ về việc yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn S phải trả cho ông Đ số tiền 5.700.000 đồng, gồm: 5.000.000 đồng tiền bồi dưỡng và 700.000 đồng tiền phí, lệ phí các loại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2] Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Đ không được chấp nhận nên ông định phải chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi.

[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Đ không được chấp nhận nên ông Đ phải chịu nhưng được miễn do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:

Căn cứ các Điều 147, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 513, 515, 517, 518 và 519 của Bộ luật dân sự; các Điều 12, 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức Đ về việc yêu cầu ông Phạm Văn S phải trả cho ông Nguyễn Đức Đ số tiền 5.700.000 đồng (năm triệu bảy trăm nghìn đồng), gồm: 5.000.000 đồng tiền bồi dưỡng và 700.000 đồng tiền phí, lệ phí các loại.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Đức Đ được miễn do là người cao tuổi.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Đức Đ được miễn do là người cao tuổi.
  4. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - TAND H.Xuyên Mộc;
  • - Chi cục THADS H.Xuyên Mộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 250/2024/DS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 250/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Đ yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn S phải trả tổng số tiền là 5.700.000 đồng cho ông Đ. Ngoài yêu cầu trên, ông Đ không có yêu cầu nào khác.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger