Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 250/2024/HSST

Ngày: 13/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Bé.
  2. Ông Lê Văn Rồi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Nguyễn Viết Hiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Văn phòng ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 167/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Anh T, sinh năm 1995, tại tỉnh Trà Vinh; nơi thường trú: Ấp E, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn A và bà Huỳnh Ngọc D; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 bị tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Dương Văn T1, sinh năm 1992, tại tỉnh Bến Tre; nơi thường trú: Tổ A, Ấp E, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dương Hồng N (chết) và bà Bùi Thị Đ; vợ tên Tạ Thị Xuân N1 và có 1 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 bị tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 165/CT-VKS.CC ngày 11/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Lê Anh T và Dương Văn T1 về hành vi phạm tội như sau:

Do không có việc làm để tiêu xài nên Lê Anh T nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại kiếm lời. Giữa tháng 12/2023, được bạn quen biết ngoài xã hội (không rõ lai lịch) giới thiệu người sử dụng số điện thoại 0921.600.xxx có bán ma túy nên T đã liên lạc thỏa thuận mua 10.000.000 đồng ma túy đá và hẹn giao nhận tiền, chất ma túy tại khu vực cầu X thuộc huyện H, TP .. Có ma túy, T mang về phòng trọ phân ra thành nhiều gói nhỏ bán lại cho nhiều người.

Cụ thể: Lê Anh T đã bán ma túy cho Trần Thị Thanh T2 được 08 lần vào các ngày 14/12/2023, 24/12/2023, 25/12/2023, 30/12/2023, 31/12/2023, 01/01/2024, 02/01/2024, 04/01/2024 với giá từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng; T đã bán cho Thạch N2 được 02 lần vào ngày 05/01/2024 và ngày 07/01/2024 mỗi lần với giá 200.000 đồng; bán cho Trần Hoàng  01 lần vào ngày 06/01/2024 với giá 200.000 đồng. Đến ngày 07/01/2024, chất ma túy đã bán hết, T tiếp tục gọi điện thoại vào số 0921.600.xxx gặp người thanh niên hỏi mua 5.000.000 đồng ma túy đá. Người này đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận tiền, chất ma túy tại khu vực cầu X thuộc huyện H, TP .. Thỏa thuận xong, T điều khiển xe gắn máy biển số 59K1-09169 đi từ phòng trọ thuộc ấp G, xã T, huyện C, TP . đến điểm hẹn gặp người thanh niên (không rõ lai lịch) giao số tiền 5.000.000 đồng và nhận 01 bịch nylon chứa 07 gói ma túy đá treo trên xe rồi điều khiển xe đi về phòng trọ.

Đến khoảng 11 giờ 00 ngày 09/01/2024, Dương Văn T1 sử dụng số điện thoại 0924.286.xxx gọi cho T hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, T đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận tiền, chất ma túy tại khu vực đồng ruộng thuộc xã P, huyện C. Thỏa thuận xong, T lấy 01 gói ma túy chiết ra 01 gói nylon nhỏ bán cho T1, phần ma túy còn lại trong gói nylon T cất giấu trên đầu tủ lạnh. Riêng 06 gói ma túy mua vào ngày 07/01/2024, T cất giấu trên gác lửng trong phòng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng nêu trên.

Riêng Dương Văn T1 sau khi mua ma túy của T thì T1 đến khu vực Cầu Sắt thuộc ấp D, xã P, huyện C lấy ma túy cho vào bộ dụng cụ (đã để sẵn ở khu vực Cầu sắt) rồi đốt lên sử dụng một mình, số ma túy còn lại trong ống thủy tinh thì T1 cất giấu vào trong túi quần Jean phía trước bên phải để mang về đưa về bỏ trên kệ gỗ trước cửa phòng trọ số 4 của T1 thuê để giao lại cho T3 (chưa rõ lai lịch) do trước đó T3 đưa cho T1 300.000 đồng để T1 đi mua ma túy về sử dụng chung, nhưng T3 đi đâu T1 không rõ thì bị Công an xã P, huyện C bắt quả tang thu giữ cùng tang vật vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 09/01/2024.

Khám xét khẩn cấp chổ ở của Dương Văn T1 tại ấp E, xã P, huyện C và chổ ở của Lê Anh T tại ấp G, xã T, huyện C không thu giữ gì.

Tại cơ quan điều tra: Trần Thị Thanh T2, Thạch N2, Trần Hoàng  và Dương Văn T1 đều khai nhận đã mua ma túy của Lê Anh T như đã nêu trên.

Kết luận giám định số 1094/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H xác định: Tinh thể không màu trong 07 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Lê Anh T và hình dấu Công an xã T, huyện C (ký hiệu mẫu m) cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 24,7285g loại Methamphetamine (BL185).

Kết luận giám định số 1095/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H xác định: Tinh thể màu nâu trong ống thủy tinh đầu tròn được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Dương Văn T1 và hình dấu Công an xã P, huyện C (ký hiệu mẫu m) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1546g loại Methamphetamine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

  • - Của Lê Anh T: 07 gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 399/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, có số imei 1:866467067622013, số imei2:866467067622005, bị cán T dùng để liên lạc mua bán ma túy; 01 xe gắn máy biển số 59K1-091.69, số khung: RLCS5C640BY151072, số máy: 5C64451075, T mua của một người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 10.000.000 đồng vào khoảng tháng 11/2023 nhưng không có hợp đồng mua bán.
  • - Của Dương Văn T1: 01 ống thủy tinh chưa tinh thể màu nâu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 400/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, có số imei:353101113177025, T1 dùng để mua ma túy; 01 cái quần Jeans T1 dùng để cất giấu ma túy.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử: Lê Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Dương Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh luận tội: Giữ nguyên quan điểm theo Cáo trạng số 165/CT-VKS.CC ngày 11/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại phiên tòa, lời khai của hai bị cáo Lê Anh T và Dương Văn T1 phù hợp với nhau và phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ.

  • - Bị cáo T đang tàng trữ 07 gói nylon chứa tinh thể không màu là chất ma túy có khối lượng 24,7285g, loại Methamphetamine để bán cho người khác thì bị bắt quả tang. Trước đó Lê Anh T đã bán cho: Trần Thị Thanh T2 được 08 lần vào các ngày 14/12/2023, 24/12/2023, 25/12/2023, 30/12/2023, 31/12/2023, 01/01/2024, 02/01/2024, 04/01/2024 với giá từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng; bán cho Thạch N2 được 02 lần vào ngày 05/01/2024 và ngày 07/01/2024 mỗi lần với giá 200.000 đồng; bán cho Trần Hoàng  01 lần vào ngày 06/01/2024 với giá 200.000 đồng; bán cho Dương Văn T1 01 lần vào ngày 09.01.2024 với giá 200.000 đồng.
  • - Bị cáo Dương Văn T1 đang tàng trữ 01 ống thủy tinh là chất ma túy có khối lượng 0,1546 g, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hai bị cáo T và T1 chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 10 đến 12 năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Văn T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Tại phiên tòa, bị cáo T khai thu lợi từ bán ma túy khoảng 3.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại số tiền 3.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

  • - 01 xe gắn máy biển số 59K1-091.69, số khung: RLCS5C640BY151072, số máy: 5C64451075, bị cáo T khai mua của một người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 10.000.000 đồng vào khoảng tháng 11/2023 nhưng không có hợp đồng mua bán. Bị cáo T dùng làm phương tiện đi lại và đi mua bán trái phép chất ma túy. Qua xác minh được biết: Chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, biển số: 59K1-091.69 do ông Nguyễn Hoàng Minh T4 (sinh năm 1978, nơi thường trú số C, P, Phường C, Quận F, Tp.) đứng tên đăng ký chủ sở hữu năm 2011. Qua làm việc, ông T4 cho biết đã mua và sử dụng chiếc xe đến khoảng năm 2014 thì bán lại cho một người đàn ông (không rõ lai lịch, ông T4 không nhớ tên) tại khu vực Quận A, Tp . với giá khoảng 17.000.000 đồng và không có làm hợp đồng mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra thông báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 gói niêm phong mang số vụ 399/24 có chữ ký niêm phong của các bộ điều tra và Giám định viên, 01 gói niêm phong mang số vụ 400/24 có chữ ký niêm phong của các bộ điều tra và Giám định viên, 01 cái quần Jean của bị cáo T1 cất giấy ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Vivo, có số imei 1: 866467067622013, số imei 2: 866467067622005 của bị cáo T sử dụng mua bán ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, có số Imei: 353101113177025 của bị cáo T1 dùng để mua ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, có số imei: 355791072566867 của bị cáo T1 không liên quan đến việc phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử trả cho bị cáo.

Đối với Trần Thị Thanh T2, Thạch N2 và Trần Hoàng  mua ma túy của Lê Anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển xử lý theo thẩm quyền.

Đối với người thanh niên (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Lê Anh T và người nam tên T3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra xử lý sau, Viện kiểm sát nhân dân huyện C không xét.

Hai bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng, hai bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ để hai bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, lời khai của hai bị cáo Lê Anh T và Dương Văn T1 phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Hai bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi:

  • - Bị cáo T đang tàng trữ 07 gói nylon chứa tinh thể không màu là chất ma túy có khối lượng 24,7285g, loại Methamphetamine để bán cho người khác thì bị bắt quả tang. Trước đó bị cáo đã bán cho: Trần Thị Thanh T2 được 08 lần vào các ngày 14/12/2023, 24/12/2023, 25/12/2023, 30/12/2023, 31/12/2023, 01/01/2024, 02/01/2024, 04/01/2024 với giá từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng; bán cho Thạch N2 được 02 lần vào ngày 05/01/2024 và ngày 07/01/2024 mỗi lần với giá 200.000 đồng; bán cho Trần Hoàng  01 lần vào ngày 06/01/2024 với giá 200.000 đồng; bán cho Dương Văn T1 01 lần vào ngày 09.01.2024 với giá 200.000 đồng.
  • - Bị cáo Dương Văn T1 đang tàng trữ 01 ống thủy tinh là chất ma túy có khối lượng 0,1546 g, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo Dương Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2] Hai bị cáo nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện hai bị cáo đã bất chấp. Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Xét hai bị cáo không có tiền án, tiền sự, hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng, cùng có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử khoan hồng giảm một phần hình phạt đối với hai bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy hai bị cáo phạm tội lần đầu, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.

[4] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo T nộp lại số tiền 3.000.000 đồng, là tiền bị cáo thu lợi từ bán ma túy sung vào ngân sách Nhà nước.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 xe gắn máy biển số 59K1-091.69, số khung: RLCS5C640BY151072, số máy: 5C64451075, bị cáo T khai mua của một người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 10.000.000 đồng vào khoảng tháng 11/2023 nhưng không có hợp đồng mua bán. Bị cáo T dùng làm phương tiện đi lại và đi mua bán trái phép chất ma túy. Qua xác minh được biết: Chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, biển số: 59K1-091.69 do ông Nguyễn Hoàng Minh T4 đứng tên đăng ký chủ sở hữu năm 2011. Qua làm việc, ông T4 cho biết đã mua và sử dụng chiếc xe đến khoảng năm 2014 thì bán lại cho một người đàn ông (không rõ lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra thông báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 gói niêm phong mang số vụ 399/24 có chữ ký niêm phong của các bộ điều tra và Giám định viên, 01 gói niêm phong mang số vụ 400/24 có chữ ký niêm phong của các bộ điều tra và Giám định viên, 01 cái quần Jean của bị cáo T1 cất giấy ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Vivo, có số imei 1: 866467067622013, số imei 2: 866467067622005 của bị cáo T sử dụng mua bán ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, có số Imei: 353101113177025 của bị cáo T1 dùng để mua ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, có số imei: 355791072566867 của bị cáo T1 không liên quan đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định trả cho bị cáo.

[6] Đối với Trần Thị Thanh T2, Thạch N2 và Trần Hoàng  mua ma túy của Lê Anh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển xử lý theo thẩm quyền. Đối với người thanh niên (không rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáo Lê Anh T và người nam tên T3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra xử lý sau, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không xét là phù hợp.

[7] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “…..Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án...”, Hội đồng xét xử buộc hai bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát như trên là phù hợp.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Dương Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Anh T 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024.
  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Dương Văn T1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024.
  • - Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo Lê Anh T nộp lại số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 399/24 có chữ ký niêm phong của các bộ điều tra và Giám định viên, 01 gói niêm phong mang số vụ 400/24 có chữ ký niêm phong của các bộ điều tra và Giám định viên, 01 cái quần Jean.
    • + Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe gắn máy biển số 59K1-091.69, số khung: RLCS5C640BY151072, số máy: 5C64451075; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, có số imei 1: 866467067622013, số imei 2: 866467067622005; 01 điện thoại di động hiệu N3, có số Imei: 353101113177025.
    • + Trả cho bị cáo Dương Văn T1 01 điện thoại di động hiệu Iphone, có số imei: 355791072566867.

Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 149/PNK ngày 28/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C (BL241).

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc hai bị cáo Lê Anh T và Dương Văn T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Hai bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (02);
  • - VKSND huyện Củ Chi (01);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh (01);
  • - Công an huyện Củ Chi (02);
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi (01);
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh (01);
  • - Bộ phận THA hình sự (05);
  • - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Thắm

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 250/2024/HSST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 250/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger