|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 250/2023/HS-ST Ngày 19-12-2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Vượng
- Bà Ngô Thị Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà A, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1949; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là thứ ba; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1974 và có 3 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Trung tâm kiểm định kỹ thuật phương tiện thiết bị giao thông cơ giới Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn C1 – Chức vụ: Giám đốc.
(Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Duy H1, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Số nhà I, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974.
ĐKHKTT: Tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Số nhà A, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 5/2022, Nguyễn Văn T, sinh năm 1975, trú tại số nhà A, tổ dân phố G, phường D, thành phố B mua của chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974, trú tại tổ Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang một chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota LexusBKS 98K-9325, số máy 0058587, số khung 0031200 đăng ký chủ sở hữu mang tên Nguyễn Văn H2, sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố K, phường D, thành phố B. Khi mua thì giấy đăng ký xe (bản gốc) đã mất nên chị T1 không giao cho T giấy tờ đăng ký xe, hai bên cũng không viết giấy tờ mua bán xe.
Theo Nguyễn Văn T khai trong quá trình sử dụng và sửa chữa xe thì tìm thấy trong xe ô tô có 01 bản photo giấy đăng ký xe BKS 98K-9325. Do không có đăng ký xe bản gốc nên T nảy sinh ý định đặt mua đăng ký xe làm giả để sử dụng. Tháng 11/2022, T lên mạng xã hội facebook tìm được 01 tài khoản facebook nhận làm giả giấy đăng ký xe. Tiếp ghi thông tin xe ô tô ra một tờ giấy rồi gửi cho tài khoản facebook đặt làm giả đăng ký xe số 005065, biển số đăng ký 98K-9325 mang tên chủ xe Nguyễn Văn H2 với giá 300.000 đồng. Khoảng 05 ngày sau, một người đàn ông đi xe máy đến nhà T giao cho T 01 giấy đăng ký xe ô tô được làm giả. Tiếp trả cho người đàn ông này 330.000 đồng gồm tiền đặt mua đăng ký xe ô tô được làm giả và phí dịch vụ vận chuyển.
Ngày 09/6/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Lexus BKS 98K-9325 đi đến Trung tâm Đ ở phường X, thành phố B để làm thủ tục đăng kiểm. Tiếp xuất trình giấy đăng ký xe ô tô số 005065 BKS 98K-9325 mang tên Nguyễn Văn H2 đã được làm giả. Quá trình tiếp nhận hồ sơ đăng kiểm, Trung tâm Đ nghi ngờ giấy đăng ký xe ô tô số 005065 BKS 98K-9325, mang tên Nguyễn Văn H2 là giả nên đã thông báo cho Công an thành phố B và cung cấp bản sao hồ sơ đăng kiểm xe ô tô BKS 98K-9325. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Nguyễn Văn T 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota LexusBKS 98K-9325 màu sơn bạc; 01 giấy đăng ký xe ô tô số 005065 của xe ô tô BKS 98K-9325 mang tên Nguyễn Văn H2. Nguyễn Văn T khai mua đăng ký xe ô tô trên mạng sử dụng đi đăng kiểm thì bị phát hiện.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định giấy đăng ký xe ô tô số 005065 BKS 98K-9325 mang tên Nguyễn Văn H2 đã thu giữ của Nguyễn Văn T. Kết luận giám định số 1127/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Phôi, hình dấu trên “Đăng ký xe ô tô” số 005065, biển số đăng ký 98K-9325, mang tên chủ xe Nguyễn Văn Hậu cần giám định là giả, được làm bằng phương pháp in phun màu.
- Chữ ký mang tên Đỗ Văn T2 trên “Đăng ký xe ô tô” số 005065, biển số đăng ký 98K-9325, mang tên chủ xe Nguyễn Văn Hậu cần giám định so với chữ ký của Đỗ Văn T2 mẫu lưu trữ tại Phòng K Công an tỉnh B là không phải do cùng một người ký ra.
Về nguồn gốc xe ô tô BKS 98K-9325 đăng ký mang tên Nguyễn Văn H2 ở thôn P, xã D, thành phố B. Anh H2 khai chiếc xe trên là của ông Nguyễn Bá T3, sinh năm 1953 là anh rể của anh H2. Chị Nguyễn Thị T1 khai mua chiếc xe ô tô này của ông T3. Năm 2017, chị T1 đến Phòng C2 Công an tỉnh B làm thủ tục xin cấp lại biển kiểm soát thì bị phát hiện hồ sơ gốc của xe bị làm giả (dãy số máy 0058587 bị đóng đục lại, chứng từ nguồn gốc xe trong hồ sơ bị tẩy xóa). Phòng C2 đã tạm giữ giấy đăng ký xe và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để giải quyết. Ngày 03/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B kết luận ông Nguyễn Bá T3 có hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức nhưng do ông T3 đã bị chết nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 02 đăng ký xe số 003573, số 001848của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Lexus, BKS 98K-9325 trong hồ sơ giải quyết nguồn tin tội phạm do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B thụ lý giải quyết. Kết luận giám định số 2005/KL-KTHS ngày 20/10/2023của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 02 “Đăng ký xe ô tô” số 003573, số A, cùng biển số đăng ký 98K-9325, mang tên chủ xe Nguyễn Văn Hậu cần giám định là thật.
Đối với người làm giả đăng ký xe ô tô do Nguyễn Văn T đặt mua và người đàn ông đi xe máy đến nhà T giao cho T 01 giấy đăng ký xe ô tô được làm giả. Theo T khai không nhớ và không biết thông tin, địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Lexus BKS 98K-9325 được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Tại Bản cáo trạng số 244/CT-VKS ngày 13 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Lexus, BKS 98K-9325, màu sơn bạc, số máy 0058587, số khung 0031200, xe đã qua sử dụng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
- Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do Nguyễn Văn T mua chiếc xe ô tô BKS 98K-9325 nhưng không có giấy đăng ký xe. Tháng 11/2022, T đặt mua trên mạng xã hội 01 đăng ký xe làm giả số 005065, biển số đăng ký 98K-9325 mang tên Nguyễn Văn H2 mục đích để sử dụng. Ngày 09/6/2023, T điều khiển xe ô tô BKS 98K-9325 đến Trung tâm Đ1 để làm thủ tục đăng kiểm xe thì bị phát hiện đăng ký xe ô tô làm giả. Kết quả giám định xác định đăng ký xe ô tô số 005065, biển số đăng ký 98K-9325 mang tên Nguyễn Văn H2 là giả được làm bằng phương pháp in phun màu.
- Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn, bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính.. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Do bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo bị cáo làm nghề kinh doanh sửa chữa xe ô tô nên có khả năng nộp tiền phạt theo quy định. Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn, áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo như Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp theo quy định pháp luật và cũng đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hính phạt chính đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Lexus, BKS 98K-9325, màu sơn bạc, số máy 0058587, số khung 0031200, xe đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Trả lại bị cáo chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Lexus, BKS 98K-9325, màu sơn bạc, số máy 0058587, số khung 0031200, xe đã qua sử dụng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 250/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 250/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T "sử dụng tài liệu giả của cơ quan tỏ chức"
