|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 250/2024/HS-PT Ngày: 19-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ
Ông Nguyễn Chí Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 202/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Đinh Văn H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.
- Bị cáo có kháng cáo: Đinh Văn H, sinh ngày15-6-1984; Nơi sinh: Tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cư trú: Ấp Thị, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn S, sinh năm 1928 (chết) và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957 (chết); Có vợ Võ Thị L, sinh năm 1982; Có 03 người con: Lớn sinh năm 2002 và nhỏ sinh năm 2006; Có 05 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Tiền án; Tiền sự: Không; Tạm giữ; Tạm giam: Khômg. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án Viện kiểm sát cũng không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2009, Đinh Văn H có nhờ một người tên N1 ở xã T, huyện T (không rõ nhân thân, lai lịch) mua dùm 01 giấy phép lái xe giả hạng A1, với số tiền 1.400.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 29/11/2023, H điều khiển xe mô tô biển số: 66F1-3182 chạy trên đường ĐT843 thuộc địa phận ấp B, xã T, huyện T thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện T yêu cầu dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn. Sau đó H xuất trình 01 giấy phép lái xe hạng A1, số AL 678576, tên Đinh Văn H nên lực lương Cảnh sát giao thông lập biên bản tạm giữ.
Sau khi lực lương Cảnh sát giao thông kiểm tra giấy phép lái xe hạng A1, số AL 678576, tên Đinh Văn H thì phát hiện giấy phép lái xe trên là giả. Sau đó Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền. Trong quá trình làm việc thì Đinh Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi mua và sử dụng giấy phép lái xe giả như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án thu giữ gồm: Một giấy phép lái xe hạng A1, số AL 678576, họ và tên: Đinh Văn H. Do sở giao thông thành phố H cấp ngày 06/7/2009. (đã lưu vào hồ sơ vụ án).
Tại bản kết luận giám định số: 463/KL-KTHS, ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1, số AL 678576, họ và tên: Đinh Văn H cần giám định là giả.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 341, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, bị cáo Đinh Văn H có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Đinh Văn H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đinh Văn H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo, có cung cấp được tình tiết mới bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ đang mang bệnh hiểm nghèo, bị cáo còn phải nuôi mẹ vợ và người cậu tuổi cao, thường xuyên ốm đau. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho các bị cáo. Xét mức hình phạt tù mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; có địa chỉ rõ ràng; đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm về phần hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo H được hưởng án treo.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với vật chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Do không biết chữ, không tham gia thi giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định nên bị cáo Đinh Văn H nhờ người tên N1 mua dùm 01 giấy phép lái xe giả hạng A1, số AL 678576 mang tên Đinh Văn H do Do sở giao thông thành phố H cấp với số tiền 1.400.000 đồng để sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 29/11/2023, H điều khiển xe mô tô biển số: 66F1-3182 chạy trên đường ĐT843 thuộc địa phận ấp B, xã T, huyện T thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện T yêu cầu dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn thì phát hiện H đã có hành vi sử dụng giấy phép lái xe hạng A1giả nêu trên.
- Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Khi thực hiện hành vi, bị cáo thừa biết hành vi của mình là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
- Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đinh Văn H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ đang mang bệnh hiểm nghèo, con bị bệnh bứu, bị cáo còn phải nuôi mẹ vợ và người cậu tuổi cao, thường xuyên ốm đau; bị cáo có trình độ học vấn thấp nên việc nhận thức về pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; có địa chỉ rõ ràng. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cho bị cáo rèn luyện, sửa chữa để trở thành người tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo.
- Xét lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Đinh Văn H là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Đinh Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Đinh Văn H. Sửa bản án sơ thẩm, giữ y mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo H được hưởng án treo.
-
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đinh Văn H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 19/9/2024).
Giao bị cáo Đinh Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo Đinh Văn H phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Đinh Văn H phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo Đinh Văn H thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Đinh Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 250/2024/HS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 250/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức
