Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28-11-2023

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Bê

2. Ông Lý Đình Đạt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Thìn - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 326/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/11/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Lương Xuân M, sinh năm 1989 (vắng mặt)

    Thường trú: thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

    Hiện lao động ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể

    Người đại diện theo ủy quyền của anh Lương Xuân M nhận các văn bản tố tụng của Tòa án: Ông Lương Văn M1, sinh năm 1965; Địa chỉ: thôn Quất, xã Hợp Đức, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

  2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1990 (vắng mặt)

    Địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 07/12/2022, nguyên đơn anh Lương Xuân M

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị Hoàng Thị T được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 21/9/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị T về nhà anh làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh chị bàn bạc để anh sang Đài Loan lao động cải thiện kinh tế. Năm 2015 anh đi lao động tại Đài Loan, mỗi năm anh về thăm gia đình 01 lần, thời gian kéo dài 1 tháng. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn, anh chị nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Đầu tháng 11/2022, anh có về thăm gia đình và gặp chị T nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không thành.

Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị T.

Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là cháu Lương Thị Thanh T1, sinh ngày 26/11/2019. Sau khi ly hôn, anh đề nghị giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh và chị T tự thỏa thuận. Nếu chị T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung thì anh đồng ý cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện ở xa, anh không về Việt Nam để giải quyết ly hôn được, không thể về tham gia các phiên tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án được. Do vậy, anh xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên xét xử của Tòa án trong vụ án này. Anh ủy quyền cho ông Lương Văn M1, sinh năm 1965, hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang thay mặt anh nhận các tài liệu do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giao và nộp các tài liệu, chứng cứ thay anh.

Bị đơn chị Hoàng Thị T trình bày:

Chị và anh M đăng ký kết hôn ngày 21/9/2016 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn, anh Lương Xuân M lao động tại nước ngoài, qua quá trình tìm hiểu nhau thì anh M về nước kết hôn với chị, sau đó lại sang Đài Loan lao động tiếp. Từ tháng 3/2023, chị và con đã bị bố mẹ anh M đuổi ra khỏi nhà. Nay anh M đề nghị ly hôn thì chị đồng ý ly hôn với anh M do chị yêu cầu anh M hòa giải nhiều lần để cùng chăm sóc con cái nhưng anh M không đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Lương Thị Thanh T1, sinh ngày 26/11/2019. Hiện cháu đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/9/2023, chị T đề nghị anh M cấp dưỡng nuôi con từ tháng 01/2021 đến tháng 9/2023, mỗi tháng 1.500.000đồng, tổng là 36.000.000 đồng và yêu cầu anh M cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng kể từ khi xét xử sơ thẩm xong cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tại Đơn đề nghị giải quyết ly hôn ngày 01/11/2023, chị T thay đổi ý kiến, về cấp dưỡng nuôi con chị đồng ý với đề nghị của anh M tại đơn ly hôn.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và không có công nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị trình bầy chị xin vắng mặt tại phiên tòa

Tại phiên tòa sơ thẩm: Anh Lương Xuân M, chị Hoàng Thị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt,.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Lương Xuân M, biên bản lấy lời khai của chị Hoàng Thị T và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh M, bị đơn chị T đều xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Xuân M

Về hôn nhân: Anh Lương Xuân M được ly hôn Chị Hoàng Thị T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Lương Thị Thanh T1, sinh ngày 26/11/2019 cho Chị Hoàng Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lương Xuân M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/01 tháng tính từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Về án phí: anh Lương Xuân M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí về cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Lương Xuân M khởi kiện xin ly hôn chị Hoàng Thị T và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Do anh M lao động nước ngoài theo Công văn trả lời số:20611 /QLXNC-P5 ngày 09/8/2023 của Cục Q-Bộ C cung cấp, anh M xuất nhập cảnh 13 lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 06/8/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có đương sự là nguyên đơn anh M hiện đang lao động tại nước ngoài, bị đơn chị T có địa chỉ thường trú tại: thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về việc mặt đương sự: Anh Lương Xuân M, chị Hoàng Thị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Lương Xuân M, chị Hoàng Thị T.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Xuân M và chị Hoàng Thị T kết hôn ngày 21/9/2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị T.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh M đối với chị T. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T về gia đình nhà anh M làm dâu ngay. Vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc. Do điều kiện kinh tế gia đình, sau khi kết hôn, anh M đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn, anh chị nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh, chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Nay anh M xin ly hôn chị T, chị T cũng xác nhận vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng anh M không đồng ý và đến nay chị đồng ý ly hôn với anh Lương Xuân M. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh M, chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 53, khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho anh M, được ly hôn chị T là có căn cứ và phù hợp với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[4]. Về con chung: Anh M, chị T đều xác định vợ chồng có 01 con chung là: Lương Thị Thanh T1, sinh ngày 26/11/2016. Hiện nay cháu T1 đang ở cùng chị T. Khi ly hôn, anh M đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Xét đề nghị của anh M, Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay anh M đang lao động ở nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, cháu Lương Thị Thanh T1 đang ở cùng chị Hoàng Thị T. Chị Hoàng Thị T có quan điểm đồng ý với yêu cầu của anh Lương Xuân M. Do đó, anh Lương Xuân M đề nghị Tòa án giao con chung cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật. Nên căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của anh M giao con chung là Lương Thị Thanh T1, sinh ngày 26/11/2019 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này. Theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp quy định cũng như điều kiện thực tế và đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh M và chị T đều thống nhất anh M cấp dưỡng nuôi cháu T1 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/01 tháng. Xét thấy, nguyện vọng của anh M là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 107, Điều 110, Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của anh M về việc cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/01 tháng.

[6]. Về phương thức và thời gian cấp dưỡng: Anh M đề nghị cấp dưỡng theo tháng, chị T đồng ý. Do vậy, đề nghị của anh M chị T phù hợp quy định tại Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận phương thức cấp dưỡng theo tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

[7]. Về tài sản, công nợ chung: anh M, chị T đều xác định vợ chồng không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Anh Lương Xuân M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Số tiền anh M còn phải nộp là 300.000 đồng

[9]. Về quyền kháng cáo:

Anh Lương Xuân M vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Hoàng Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Xuân M.

  1. Về hôn nhân: Anh Lương Xuân M được ly hôn chị Hoàng Thị T.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Lương Thị Thanh T1, sinh ngày 26/11/2019 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Anh Lương Xuân M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lương Xuân M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hoàng Thị T với mức cấp dưỡng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/01 tháng. Phương thức cấp dưỡng theo tháng và thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 11 năm 2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  4. Về án phí: anh Lương Xuân M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000150 ngày 01/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

    Về án phí cấp dưỡng: anh Lương Xuân M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

  5. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Lương Xuân M hiện đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Chị Hoàng Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -Các đương sự;
  • -UBND xã Hợp Đức, huyện Tân Yên;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 256/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 256/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa anh N và chị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger