|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 250/2025/HNGĐ-ST Ngày 29-12-2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 384/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ H, khu phố C, xã B, tỉnh Tây Ninh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Trần Thị G, sinh năm 1987; địa chỉ: Số A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 9 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị G sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2008 ngày 24/7/2008.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau cuộc sống không hạnh phúc. Nay anh Nguyễn Văn H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị G.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 23/02/2008. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu chị Trần Thị G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Trần Thị G đã được Tòa án tống đạt bằng hình thức niêm yết nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Sự chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật liên quan. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu ly hôn tranh chấp, nuôi con đối với bị đơn chị Trần Thị G. Bị đơn chị Trần Thị Giàu C địa chỉ cư trú tại số A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Trần Thị G đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị Giàu C đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2008 ngày 24/7/2008 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Căn cứ ly hôn: Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Văn H xác định mâu thuẫn vợ chồng là do quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập chị Trần Thị G để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng chị G không đến, đồng thời Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng tại địa phương, nhưng không ai biết về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh Nguyễn Văn H trình bày quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 23/02/2008. Sau ly hôn, anh Nguyễn Văn H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi phải bảo đảm để con chung phát triển tốt về mọi mặt. Quá trình tố tụng, chị Trần Thị G không có ý kiến gì về việc yêu cầu nuôi con chung, đồng thời căn cứ vào ý kiến của cháu Nguyễn Thị Minh T có nguyện vọng được sống cùng cha. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Tòa án giao con chung cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn H tự nguyện không yêu cầu chị Trần Văn G1 cấp dưỡng nuôi các con chung, xét đây là sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Từ những phân tích nêu trên có căn cứ chấp nhận cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H về tranh chấp ly hôn đối với bị đơn chị Trần Thị G.
- 1.1 Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Trần Thị G [Giấy chứng nhận kết hôn số 58/2008 do Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) cấp ngày 24/7/2008].
- 1.2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 23/02/2008 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn H không yêu cầu chị Trần Thị G cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị Giàu C quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.
- 1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm về ly hôn: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0023549 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Chi thi hành án dân sự Thành phố H.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |
Bản án số 250/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 250/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Văn H tranh chấp ly hôn, nuôi con với chị Trần Thị G
