|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 250/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Huy Viện và ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên
Ngày 29/5/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 196/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1992
Địa chỉ: khối A, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trần Quý Đ, sinh năm 1992. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: khối A, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú ở nước ngoài. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương trình B: Chị Nguyễn Thị P và anh Trần Quý Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 25/9/2017 tại UBND thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Khoảng năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Từ cuối năm 2022, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, cắt đứt các quan hệ vợ chồng, tình cảm lạnh nhạt. Nay chị Nguyễn Thị P thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, chị P không còn tình cảm với anh Trần Quý Đ, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Trần Quý Đ.
Về con chung: vợ chồng có một con chung là cháu Trần Quý An K, sinh ngày 09/02/2018, hiện cháu đang ở chị Nguyễn Thị P. Nếu vợ chồng ly hôn thì chị Nguyễn Thị P đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh Trần Quý Đ cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Trần Quý Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, công văn yêu cầu anh Trần Quý Đ có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, ... cho anh Trần Quý Đ thông qua ông Trần Quý H là bố đẻ của anh Trần Quý Đ; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của anh Đ nhưng hiện tại anh Trần Quý Đ vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Ông Trần Quý H là bố đẻ của anh Trần Quý Đ trình bày: chị Nguyễn Thị P và anh Trần Quý Đ mâu thuẫn và làm đơn xin ly hôn thì ông H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh Đ hiện đang ở nước ngoài, thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của anh Đ ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Ông H đã thông báo cho anh Đ biết về việc chị P làm đơn xin ly hôn. Thông qua ông H, anh Đ trình bày, anh đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết.
Cháu Trần Quý An K trình bày: Cháu là con của mẹ Nguyễn Thị P và bố Trần Quý Đ. Nếu bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu thân nhân của anh Trần Quý Đ cung cấp địa chỉ của anh Đ ở nước ngoài cho Tòa án. Thông qua lời khai của ông Trần Quý H có căn cứ xác định bị đơn anh Trần Quý Đ hiện đang ở nước ngoài và vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình, anh Đ đã biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị P nhưng anh Đ vẫn không gửi ý kiến về cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là có cơ sở.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Trần Quý Đ Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Trần Quý An K cho chị Nguyễn Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con chung do nguyên đơn không có yêu cầu nên miễn xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu. Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Quý Đ có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Công văn số 5556/QLXNC-Đ1 ngày 27/12/2024 của Phòng Q Công an tỉnh N và lời trình bày của ông Trần Quý H là bố đẻ của bị đơn anh Trần Quý Đ thì có căn cứ xác định hiện nay anh Trần Quý Đ đang cư trú tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh Trần Quý Đ cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh Đ cho Tòa án. Do đó, việc anh Trần Quý Đ vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Quý Đ đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Nguyễn Thị P vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P, anh Trần Quý Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Nay, chị P thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị P được ly hôn với anh Đ. Theo trình bày của ông Trần Quý H thì anh Đ đã biết việc chị P đề nghị ly hôn nhưng cũng không có ý kiến mong muốn hòa giải đoàn tụ gửi cho Tòa án. Do đó, xét thấy, hôn nhân của chị P, anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Trần Quý Đ.
[3] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Trần Quý An K, sinh ngày 09/02/2018, hiện đang ở với chị Nguyễn Thị P. Ly hôn, chị Nguyễn Thị P có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Trần Quý Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay anh Trần Quý Đ đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, không rõ địa chỉ; chị Nguyễn Thị P đang sinh sống cùng con ở Việt Nam. Vì vậy, để ổn định sinh hoạt và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, cần giao cháu Trần Quý An K cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Anh Trần Quý Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị P không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Trần Quý Đ chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 37; 40; 147; 227; 228; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Trần Quý Đ.
- Về con chung: Giao cháu Trần Quý An K, sinh ngày 09/02/2018 cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Trần Quý Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị P chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005681 ngày 04/10/2024. Chị Nguyễn Thị P đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Chị Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Trần Quý Đ đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM Võ Duy Bảo Mai H1 Viện |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu T |
Bản án số 250/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 250/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN NGUYỄN THỊ P - TRẦN QUÝ Đ
