| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA Bản án số: 250/2025/HNGĐ - ST Ngày: 18-12-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Đình Quế; ông Vũ Văn Doãn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 18/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 138/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02/12/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thúy H - Sinh năm 1996 - Số CCCD: [...] - Địa chỉ: Thôn Đ (thôn C cũ), xã N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Văn H1 - Sinh năm 1995 - Số CCCD: [...] - Địa chỉ: Thôn Đ (thôn C cũ), xã N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/9/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thúy H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn H1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N (nay là xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 26/4/2018. Sau khi kết hôn 05 năm xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột. Mặt khác do anh H1 có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh H1 không thay đổi. Vì vậy, từ tháng 6/2024 đến nay vợ chồng chị đã sống ly thân nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, nên chị yêu cầu được ly hôn anh H1.
Về con: Vợ chồng chị có 01 con chung là Trần Khánh L – Sinh ngày 14/10/2018. Chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi con, yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 5.000.000đ. Tại bản tự khai ngày 21/10/2025, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, anh H1 đã biết được chị H khởi kiện xin ly hôn anh ra Tòa án nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thúy H, cho chị H được ly hôn anh Trần Văn H1. Về con: Giao cháu Trần Khánh L – Sinh ngày 14/10/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị H phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Đỗ Thúy H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Trần Văn H1 có địa chỉ ở xã N, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Trần Văn H1 biết việc chị Đỗ Thúy H xin ly hôn anh. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh H1 vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Ngày 02/12/2025 Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh H1 vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, chị H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, còn anh H1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, nên theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt cả chị H và anh H1.
[2] Về hôn nhân: Chị Đỗ Thúy H và anh Trần Văn H1 kết hôn ngày 26/4/2018, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống với nhau được 5 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột, mặt khác anh H1 còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị đã khuyên nhủ nhưng anh H1 không thay đổi. Từ tháng 6/2024 đến nay, chị H và anh H1 sống ly thân nhau, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị H thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn anh H1.
HĐXX xét thấy, chị H và anh H1 có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, anh H1 không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì, chứng tỏ anh H1 không mong muốn đoàn tụ. Mặt khác, tại biên bản xác minh ngày 10/11/2025, đại diện thôn C, xã N cho biết: Anh H1 và chị H kết hôn với nhau năm 2018. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống bình thường và có 01 con chung. Một thời gian sau, vợ chồng anh chị xảy ra một số mâu thuẫn, bất đồng. Anh H1 có đăng ký thường trú tại thôn C, xã N. Anh H1 đi làm ăn kinh tế, thỉnh thoảng về thăm gia đình. Hiện tại chị H đã đưa con chung đi sống ở nơi khác, không còn chung sống với anh H1.
Như thế chứng tỏ cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị H được ly hôn anh H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 con chung là Trần Khánh L – Sinh ngày 14/10/2018, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng.
HĐXX thấy, từ khi chị H và anh H1 sống ly thân nhau đến nay cháu L ở với chị H, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con nhưng anh H1 không có ý kiến gì, mặt khác, cháu L có nguyện vọng được ở với chị H. Vì vậy, cần xử giao cháu L cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên miễn xét.
[4] Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
[5] Về án phí: Chị Đỗ Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thúy H, cho chị H được ly hôn anh Trần Văn H1.
- Về con: Giao cháu Trần Khánh L – Sinh ngày 14/10/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh H1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Đỗ Thúy H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001383 ngày 10/10/2025 của Chi thi hành án dân sự tỉnh T; chị H đã nộp đủ tiền án phí DSST.
- Về quyền kháng cáo: Chị H và anh H1 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND khu vực 5 – Thanh Hóa; - THADS tỉnh Thanh Hóa; - UBND xã Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 250/2025/HNGĐ - ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 250/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Thúy H yêu cầu ly hôn anh Trần Văn H1, yêu cầu trực tiếp nuôi 01 con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung
