|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 250/2025/DS-PT
Ngày: 09 - 4-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Lan Anh |
| Các Thẩm phán: | Ông Vũ Toàn Giang |
| Ông Đàm Văn Thuận |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương – Thẩm tra viên chính -Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 598/2024/TLPT- DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 168/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 151/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội.
Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty L4; Địa chỉ: P, số A N, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoài S. Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 02/3/2023. Công ty cử người tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1981; ông Dương Hải H1, sinh năm 1996; bà Dương Thị T, sinh năm 1996; bà Nguyễn Kim A, sinh năm 2001-Chức vụ: Chuyên viên. Theo Quyết định cử người ngày 03/3/2023. Ông S có mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện ủy quyền của ông T1: Công ty L5. Địa chỉ giao dịch: Số F, ngõ D L, phường X, quận T, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Phong L-Giám đốc. Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 30/12/2024. Công ty ủy quyền lại cho: Bà Doãn Thị Thu C, sinh năm 1978; bà Võ Ngọc L1, sinh năm 2001; bà Nguyễn Thùy T2, sinh năm 2001. Địa chỉ Số F, ngõ D L, phường X, quận T, Hà Nội. Theo Hợp đồng ủy quyền lại ngày 10/3/2025. Bà T2 vắng mặt; bà C, bà L1 có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Đình H2, sinh năm 2006; Vắng mặt.
- Chị Lê Thị H3, sinh năm 1982;
- Chị Lê Thị H4, sinh năm 1985; Có mặt.
- Anh Phạm Văn L2, sinh năm 1982 (con ông T1 - bà H5); Xin vắng mặt.
- Chị Hoàng Thị H6, sinh năm 1983 (vợ anh L2); Xin vắng mặt.
- Cháu Phạm Thị Ngọc Á, sinh năm 2006 (con anh L2 - chị H6); Vắng mặt.
- Cháu Phạm Văn K, sinh năm 2013 (con anh L2 - chị H6);
- Cháu Phạm Thị Kim A1, sinh năm 2015 (con anh L2 - chị H6)
Cùng địa chỉ: Tổ C TDP T, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội.
Pháp nhân đại diện theo ủy quyền của chị H3: Công ty L4; Địa chỉ: P, số A N, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoài S. Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/4/2024. Có mặt.
Người đại diện theo pháp luật của cháu K, cháu Kim A1: anh Phạm Văn L2, sinh năm 1982 và chị Hoàng Thị H6, sinh năm 1983. Xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Xóm B, thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khải, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị H và ông Lê Đình C1 là vợ chồng đã về chung sống với nhau từ năm 2005, có giấy chứng nhận kết hôn số 29 quyển số 01 được UBND xã H, tỉnh Hà Tây cấp ngày 01/06/2005. Trước đây chồng bà H là ông Lê Đình C1 và bà Hoàng Thị B1 là vợ chồng (có hai con là cháu Lê Thị H3 và cháu Lê Thị H4 - có địa chỉ nhân thân như trên) có sống ở thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội sinh sống trên mảnh đất lúc bấy giờ có chiều dài 45m và chiều rộng 15m có diện tích 665m², tại thửa đất số 71 tờ bản đồ số 3 (theo bản đồ giải thửa dân cư thôn V năm 1995) nay theo bản đồ đo đạc tổng thể năm 2016 là thửa số 76, tờ bản đồ 41 diện tích 680,9m² mang tên ông Phạm Văn T1 có địa chỉ thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội. Nguồn gốc đất này là ông Lê Đình C1 được UBND huyện C, xã H cấp năm 1975 có diện tích 665m² ở xóm B thôn V, xã H, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là thành phố Hà nội).
Năm 1987, bà Hoàng Thị B1 chết (theo văn bản xác nhận phần mộ ngày 02/6/2023). Khi chết bà B1 không để lại di chúc hay giấy tờ tài liệu gì, có hai con là cháu Lê Thị H3 và Lê Thị H4 - có địa chỉ nhân thân như trên, ngoài ra không có có riêng, con nuôi nào khác. Cha mẹ đẻ của bà B1 đã chết từ lâu.
Sau khi bà B1 chết, do các con con nhỏ - cháu H3 5 tuổi, cháu H4 4 tuổi, hoàn cảnh gia đình khi đó rất khó khăn, neo người nên ông Lê Đình C1 có vay của gia đình chị gái vợ (bà Hoàng Thị B1) là bà Hoàng Thị S1 và cháu Phạm Văn T1 (con bà S1) 700kg thóc, khi đó có làm giấy vay tiền và nói rõ nội dung là để cho bà Hoàng Thị S1 trông coi giúp mảnh đất đó. Khi đó thì chồng bà H và bà S1 có giao ước với nhau khi nào cháu H3 (là con gái của chồng bà H với bà B1) lớn thì hai bố con sẽ quay lại chuộc lại mảnh đất trên. Sau đó chồng bà H và các cháu lên T, B để làm ăn kiếm sống. Trong khoảng thời gian cháu H3 còn nhỏ thì chồng bà H và cháu H3 đã về quê sinh sống và làm ăn.
Đến đầu năm 2005 thì chồng bà H có trở về thôn V cùng với các cháu để xin lại đất đưa các cháu về ở và thực hiện giao ước khi trước nhưng gia đình bà Hoàng Thị S1, ông Phạm Văn T1 không trả lại mảnh đất trên cho chồng bà H.
Từ đầu năm 2005, chồng bà H - ông C1 liên tục có đơn thư gửi chính quyền địa phương, nhưng địa phương kéo dài sự việc, cho đến ngày 7/12/2005 thì có kết luận trả lời đơn thư của chồng bà với nội dung nếu chồng bà muốn chuộc thì hai bên phải thống nhất. Ông C1 gặp gia đình ông T1, bà S1 thì họ có nói với chồng bà nếu muốn lấy lại đất thì mang 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng) đưa gia đình ông T1 thì sẽ trả đất. Khi đó ông bà S1 bảo là thửa đất đó đã làm sổ đỏ đứng tên ông Phạm Văn T1 rồi. Sau này ông T1 có nói bây giờ đã giao lại toàn bộ quyền cho anh Phạm Văn L2 là con trai của ông Phạm Văn T1. Chồng bà H tiếp tục đơn thư yêu cầu nhưng chưa được giải quyết.
Do không có chỗ ở gia đình ông bà Cách H phải đi ở nhờ, nay đây mai đó, lúc ở Hoàng Văn T3, lúc ở nơi khác, cuộc sống bấp bênh khó khăn.
Ngày 12/12/2012 chồng bà H tình hình sức khỏe chuyển biến xấu và đã chết sau quãng thời gian gia đình tận tình chữa trị. Khi chồng bà H chết không để lại di chúc, cha mẹ đẻ của chồng bà cũng đã chết từ lâu, ngoài bà H và các con nêu trên (Cháu H3, cháu H4, cháu H2) ông C1 cũng không có con riêng, con nuôi nào khác.
Đến nay, mặc dù gia đình ông bà đã nhiều lần tiến hành nói chuyện để đưa ra hướng giải quyết nhưng gia đình ông Phạm Văn T1, trực tiếp là ông T1 vẫn tỏ thái độ không hợp tác, vụ việc đã được UBND xã H tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng kết quả vẫn là hòa giải không thành và ông T1 khẳng định mảnh đất trên là của gia đình mình.
Hiện nay, bà H và cháu H2 phải đi ở nhờ, không có chỗ ở, phải đi làm thuê làm mướn, cuộc sống khó khăn. Cháu H3, cháu H4 đã lớn, đã đi xây dựng gia đình làm ăn xa. Các cháu cũng thống nhất về đòi lại đất cho gia đình để làm nơi sinh sống, làm nơi thờ cúng bố cháu. Các cháu đều đồng ý với ý kiến của bà H và ủy quyền mọi việc cho bà giải quyết. Ngoài bà H và các cháu nêu trên (cháu H3, H4, H2) thì ông C1 không còn con nuôi, con riêng nào khác, cha mẹ đẻ của ông C1 đã chết, ông C1 không có cha mẹ nuôi; bà B1 cũng đã chết không có con nuôi, con riêng nào cả, cha mẹ đẻ của bà B1 cũng đã chết, bà B1 không có cha mẹ nuôi.
Bà Hoàng Thị S1 là mẹ đẻ ông T1, là chị gái của bà B1 cũng đã chết (chết khoảng năm 2018 - 2019) phần mộ đang an táng tại nghĩa trang thôn V, xã H.
Nay bà H đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét:
- Tuyên hủy Văn bản Đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu ngày 10/3/1989 có xác nhận của Chi ủy thôn Văn Sơn ngày 11/3/1989 và xác nhận UBND xã ngày 01/02/1992 hoặc/và văn bản mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu có.
- Buộc gia đình ông Phạm Văn T1 trả lại cho gia đình ông bà H Cách thửa đất số 76, tờ bản đồ 41, diện tích 680,9m² mang tên ông Phạm Văn T1, có địa chỉ thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội.
* Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn T1 là bà Doãn Thị Thu C trình bày:
Ngày 10/03/1989, ông Lê Đình C1 (là chồng của bà Hoàng Thị B1 là dì của ông T1), hiện nay vợ là bà Nguyễn Thị H ký Đơn xin phép chuyển nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu, theo đó, ông C1 và ông T1 đã thống nhất:
- Ông C1 chuyển nhượng cho ông T1 01 sào 10 thước đất và một túp nhà nhỏ tại xã H, huyện C, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là thành phố Hà Nội) là diện tích đất đang tranh chấp.
- Ông T1 phải:
- Chấp nhận nộp các khoản tiền thuế vườn hàng vụ hàng năm cho xã.
- Phải đóng giỗ, gửi Tết ở quê bà dì của ông T1 khi ông C1 vắng mặt.
- Phải chi cho ông C1 700 kg thóc để ông C1 nuôi các con.
- Khi các con của ông C1 trưởng thành nếu trở lại sinh sống ở đây thì ông C1 có trách nhiệm hoàn lại những gì mà ông T1 đã bỏ ra theo giá trị hiện hành.
Đơn xin phép chuyển nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu ngày 10/03/1989 có xác nhận của cán bộ Chi ủy thôn V là ông Vũ Xuân B2 ngày 11/03/1989 và được UBND xã H xác nhận ngày 01/01/1992, trong đó UBND xã H chứng thực việc chuyển nhượng nêu trên kể từ ngày 01/01/1992 ông T1 được quyền sử dụng tài sản trên.
Việc chuyển nhượng mảnh đất trên cùng tài sản, hoa màu trên đất đã được sự chấp thuận của chính quyền xã H.
Khi nhận chuyển nhượng nhà, đất từ ông C1, ông T1 đã nộp cho ông C1 700kg thóc như thỏa thuận. Hàng năm, ông T1 vẫn đóng góp các khoản giỗ, gửi tết như đã thỏa thuận với ông C1.
Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T1 cùng gia đình đã ở trên đất đó, ông T1 đã xây tường bao, 02 chuồng gà và quán bán tạp hóa, trồng cây tại diện tích đất nhận chuyển nhượng. Đến nay, gia đình ông T1 vẫn đóng đầy đủ thuế, phí đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng cho Nhà nước.
Năm 2005, ông C1 về đòi lại diện tích đất đã chuyển nhượng, tuy nhiên gia đình ông T1 đã tôn tạo, xây dựng và tu bổ làm tăng giá trị nhà đất, đồng thời vợ chồng con trai ông T1 là anh Phạm Văn L2 và chị Hoàng Thị H7 mới kết hôn, đang sinh sống trên diện tích đất nhận chuyển nhượng nên ông T1 đã đề nghị ông C1 thanh toán cho ông T1 số tiền là 800.000.000 đồng (bằng chữ: Tám trăm triệu đồng) tương ứng với giá thị trường năm 2005 để ông T1 chuyển nhượng lại nhà đất cho ông C1. Tuy nhiên, ông C1 không đồng ý và ra về, không liên lạc gì với ông T1 hay các thành viên trong gia đình ông T1.
Ông C1 đã làm đơn gửi UBND xã H, đề nghị giải quyết việc ông đòi lại diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông T1. Ngày 07/12/2005, UBND xã H đã trả lời đơn thư của ông C1 tại Kết luận số 04 KL/UB, cụ thể:
“1- Ông Lê Đình C1 đòi lại đất đã chuyển nhượng cho ông Phạm Văn T1 là không có căn cứ.
2- Ông Phạm Văn Thanh quản L3 sử dụng mảnh đất 665m² của ông Lê Đình C1 chuyển nhượng là hoàn toàn hợp lý.
3- Nếu ông Lê Đình C1 có nhu cầu sử dụng thì phải chuộc lại theo giấy tờ đã thỏa thuận. Hai gia đình thống nhất và đến UBND xã làm thủ tục theo quy định.”
Sau đó, ông C1, gia đình ông C1 không có bất kỳ liên hệ, phản hồi nào với gia đình ông T1 với diện tích đất ông T1 nhận chuyển nhượng.
Vào năm 2006, ông T1 đã giao cho vợ chồng con trai ông T1 là anh L2, chị H6 quản lý, sử dụng diện tích đất nhận chuyển nhượng từ ông C1 để sinh sống, xây dựng gia đình. Vợ chồng anh L2, chị H6 sống ổn định trên đất từ đó đến nay.
Trong quá trình sinh sống, vợ chồng anh L2, chị H6 đã tạo lập, xây dựng:
- 01 ngôi nhà mái bằng một tầng, có tum lợp mái tôn, sơn sửa công sắt vào năm 2011.
- 01 nhà cấp bốn lợp mái tôn năm 2020 để kinh doanh nhà hàng ăn uống.
- Xây sân lát gạch, trên lợp mái tôn năm 2020.
- Phía sau là vườn cây ăn quả (01 cây nhãn đường kính 30 cm, 08 cây bưởi đường kính 10-15 cm, 01 cây mít đường kính 20 cm và 01 cây đu đủ) được trồng từ khoảng năm 2006.
- Sau vườn có 01 nhà tạm lợp tôn làm chuồng chăn nuôi xây năm 2020.
Khi ông T1 và anh L2, chị H6 xây dựng, tôn tạo nhà đất vào các thời điểm nêu trên, ông C1 và gia đình ông C1 không có bất kỳ phản đối nào. Đến nay, gia đình ông T1, anh L2 cũng chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến việc xây dựng, tôn tạo nhà đất này.
Hiện nay, diện tích đất mà ông T1 nhận chuyển nhượng của ông C1 đang được gia đình anh L2, chị H6 và các con của anh chị sinh sống, quản lý, sử dụng nhà, đất và các tài sản khác gắn liền với đất ổn định từ trước đến nay.
Do đó, nhà đất đang tranh chấp là của gia đình ông T1, anh L2. Việc bà Nguyễn Thị H vợ của ông C1 cùng các con của ông C1 quay lại đòi lại diện tích đất mà ông C1 đã chuyển nhượng cho ông T1 năm 1989 là không có cơ sở. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện C bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy Văn bản Đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu ngày 10/3/1989 có xác nhận của Chi ủy thôn Văn Sơn ngày 11/3/1989 và xác nhận UBND xã ngày 01/02/1992 hoặc/và văn bản mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu có.
- Buộc gia đình ông Phạm Văn T1 trả lại cho gia đình bà H thửa đất số 76, tờ bản đồ 41, diện tích 680,9m² mang tên ông Phạm Văn T1, có địa chỉ thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: không đồng ý với ý kiến của nguyên đơn đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Bản án sơ thẩm số 168/2024/DS- ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội đã xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phạm Văn T1.
- Tạm giao cho gia đình ông Phạm Văn T1 được quyền sử dụng thửa đất số 76, tờ bản đồ 41, diện tích 680,9m²; Địa chỉ thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội. Giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,5,6,7,1) theo sơ đồ kèm theo bản án.
- Về quyền đăng ký quyền sử dụng đất: Gia đình ông Phạm Văn T1 có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật và nộp các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 168/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm theo đúng quy định pháp luật.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm và tại phiên toà,
- Nguyên đơn: xin rút yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Tuy nhiên, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn không đồng ý đề nghị trên của nguyên đơn, vì vậy nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án dân sự sơ thẩm hoặc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với luận cứ tóm tắt như sau:
- Tài sản đang tranh chấp là tài sản chung hợp nhất của ông C1 và bà B1; kể từ năm 1987, sau khi bà B1 chết chưa chia di sản thừa kế của bà B1; Năm 2005 đã có sự tranh chấp giữa ông B1 và bị đơn liên quan đến khối di sản bà B1 để lại. Cấp sơ thẩm xác định toàn bộ tài sản đang tranh chấp là của ông B1 không đề cập đến việc chia di sản thừa kế của bà B1 làm ảnh hưởng đến quyền tài sản của bà B1. Không khôi phục thời hiệu chia thừa kế, chưa xác định đúng đủ người tham gia tố tụng.
- Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hoãn phiên toà để trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trong “Đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu” ngày 10/3/1989.
- Bị đơn: đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới và không thỏa thuận giải quyết vụ kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án; Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án: sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, VKS đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 168/2024/DS- ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Bà Nguyễn Thị H nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật, về hình thức là hợp lệ.
- Về sự có mặt của các đương sự tại phiên toà: Nguyên đơn và người đại diện uỷ quyền của nguyên đơn; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị H4 có mặt; Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan là chị Hoàng Thị H6, anh Phạm Văn L2 xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt không có lý do, HĐXX áp dụng Điều 296 BLTTDS xét xử theo quy định của pháp luật.
- Về việc nguyên đơn và đại theo uỷ quyền của nguyên đơn đề nghị hoãn phiên toà đề nghị đi giám định "Đơn xin phép nhượng lại đất ở và và kế thừa tài sản hoa màu" có chữ ký của ông Lê Đình C1.
Hội đồng xét xử nhận thấy, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm nguyên đơn đều đề nghị được đi giám định chữ ký, chữ viết của ông Lê Đình C1. Tuy nhiên, tại hai cấp xét xử cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn không cung cấp được tài liệu để đi giám định và khẳng định không có có nguồn tài liệu nào khác. Đại diện VKS nhân dân thành phố H không chấp nhận đề nghị của nguyên đơn. Như vậy, đề nghị trên của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận.
- Về thời hiệu khởi kiện: Quan hệ tranh chấp là tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Văn bản Đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu ngày 10/3/1989 có xác nhận của Chi ủy thôn Văn Sơn ngày 11/3/1989 và xác nhận UBND xã ngày 01/02/1992, theo quy định tại Điều 184, Điều 185 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 3 Điều 155 Bộ luật dân sự 2015 không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
- Về áp dụng luật nội dung: Áp dụng bộ Luật Dân sự 1995; Bộ Luật Dân sự 2015; Áp dụng các quy định của Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn để giải quyết tranh chấp.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Văn bản Đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu ngày 10/3/1989 có xác nhận của Chi ủy thôn Văn Sơn ngày 11/3/1989 và xác nhận UBND xã ngày 01/02/1992.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng diện tích đất đang tranh chấp:
Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp: Ông Lê Đình C1 được UBND huyện C, xã H cấp năm 1975 có diện tích 665m² ở xóm B thôn V, xã H, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là thành phố Hà Nội).
Năm 1987 vợ ông C1 là bà Hoàng Thị B1 chết; Ngày 10/03/1989 ông Lê Đình C1 có đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu đã chuyển lại cho cháu là Phạm Văn T1 là con của chị vợ ông ở cùng đội sản xuất với những điều khoản nhất trí như sau:
- Cháu T1 phải chấp nhận nộp các khoản thuế vườn, thuế vụ hàng năm cho xã.
- Cháu phải đóng giỗ, gửi tết ở quê bà dì của cháu trong khi ông vắng mặt.
- Cháu T1 phải chi cho tôi 700kg thóc để tôi mang lên nuôi các cháu
- Các điều khoản đã ghi trên anh T1 phải có trách nhiệm. Khi các cháu tôi trưởng thành. Nếu trở lại sinh sống ở đây thì tôi có trách nhiệm hoàn lại những gì mà cháu T1 đã bỏ ra theo giá trị hiện hành lúc đó.
Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T1 cùng gia đình đã ở trên đất đó, ông T1 đã xây tường bao, 02 chuồng gà và quán bán tạp hóa, trồng cây tại diện tích đất nhận chuyển nhượng. Đến nay, gia đình ông T1 vẫn đóng đầy đủ thuế, phí đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng cho Nhà nước.
Vào năm 2006, ông T1 đã giao cho vợ chồng con trai ông T1 là anh L2, chị H6 quản lý, sử dụng diện tích đất nhận chuyển nhượng từ ông C1 để sinh sống, xây dựng gia đình. Vợ chồng anh L2, chị H6 sống ổn định trên đất từ đó đến nay.
Trong quá trình sinh sống, vợ chồng anh L2, chị H6 đã tạo lập, xây dựng:
- 01 ngôi nhà mái bằng một tầng, có tum lợp mái tôn, sơn sửa công sắt vào năm 2011.
- 01 nhà cấp bốn lợp mái tôn năm 2020 để kinh doanh nhà hàng ăn uống.
- Xây sân lát gạch, trên lợp mái tôn năm 2020.
- Phía sau là vườn cây ăn quả (01 cây nhãn đường kính 30 cm, 08 cây bưởi đường kính 10-15 cm, 01 cây mít đường kính 20 cm và 01 cây đu đủ) được trồng từ khoảng năm 2006.
- Sau vườn có 01 nhà tạm lợp tôn làm chuồng chăn nuôi xây năm 2020.
[2.2]. Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị H và trình bày của đại diện ủy quyền trong quá trình giải quyết vụ án cho rằng diện tích đất tranh chấp theo bản đồ giải thửa đất dân cư thôn V, xã H đo tháng 12/1995 thể hiện thửa đất số 71, tờ bản đồ số 03, diện tích 665m², theo bản đồ đo đạc tổng thể năm 2016 chưa được nghiệm thu thể hiện thửa đất số 76, tờ bản đồ số 41, diện tích 680,9m² hiện gia đình ông Phạm Văn T1 đang quản lý, sử dụng là do ông C1 có vay 700 kg thóc của gia đình chị gái vợ (bà Hoàng Thị B1) là bà Hoàng Thị S1 và cháu Phạm Văn T1 (con bà S1), khi đó có giấy vay tiền và nói rõ nội dung là để cho bà Hoàng Thị S1 trông coi mảnh đất đó. Khi đó ông C1 có giao ước với nhau khi nào cháu H3 (là con gái của ông C1 và bà B1) lớn thì hai bố con sẽ về chuộc mảnh đất trên.
Đến đầu năm 2005 thì ông C1 có về quê và gặp gia đình ông T1 xin chuộc lại thì gia đình ông T1 có đề nghị: ông C1 muốn lấy lại đất thì mang 800.000.000 đồng đưa cho gia đình ông T1 nhưng ông C1 không đồng ý, hai bên xảy ra mâu thuẫn xã phải giải quyết. Đến năm 2012 ông Lê Đình C1 mất do bệnh và đến đầu năm 2023 thì bà H làm đơn đề nghị hòa giải ở xã không thành.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là con gái ông C1 trình bày: ông C1 chỉ nhờ bị đơn trông hộ nhà đất, không có chuyện bán, ông C1 không thừa nhận Đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa hoa màu của ông Lê Đình C1 đã viết. Năm 2005 ông C1 đã đề nghị UBND xã giải quyết tranh chấp, sau đó ông C1 bị đi tù, bệnh tật đến năm 2012 ông C1 chết.
Quá trình giải quyết vụ việc của ông Lê Đình C1 và bà Nguyễn Thị H cũng như đại diện ủy quyền của nguyên đơn xuất trình tài liệu chứng cứ (là bản photo Đơn đề nghị đề ngày 30/4/2005) về việc ông C1 không bán đất cho ông T1 và đưa ra lập luận: như nghi ngờ chữ ký trong văn bản đơn xin phép chuyển nhượng đất không phải của ông C1; thời gian xác nhận chữ ký không cùng ngày tháng năm.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn giữ nguyên quan điểm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu chứng trong hồ sơ và Đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa hoa màu của ông Lê Đình C1 với ông Phạm Văn T1 có Chi ủy thôn V và UBND xã xác nhận.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Quá trình xác minh tại UBND xã H, nguồn gốc thửa đất trên năm 1975 là của ông Lê Đình M bố của ông Lê Đình C1 cho ông sử dụng theo bản đồ giải thửa đất dân cư đo tháng 12/1995 thể hiện thửa số 71, tờ bản đồ số 03, diện tích 665m² tại thôn V, xã H, huyện C. Theo bản đồ đo đạc tổng thể năm 2016 chưa được nghiệm thu thể hiện thửa đất số 76, tờ bản đồ số 41, diện tích 680,9m² thôn V, xã H. Hiện tại đất trên ông T1 và gia đình đang sinh sống và đóng góp thuế hàng năm với UBND xã H và chưa được cấp GCNQSD đất. Gia đình ông Phạm Văn T1 đã quản lý, sử dụng thửa đất số 76, tờ bản đồ số 41, diện tích 680,9m² thôn V, xã H đất trên từ năm 1989 đến nay đã đầu tư xây dựng nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất không vi phạm quy định về quy hoạch. Căn cứ vào Đơn xin phép chuyển nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu ngày 10/3/1989, có xác nhận của Chi ủy thôn V ngày 11/03/1989 và UBND xã xác nhận cho ông Phạm Văn T1 sử dụng kể từ ngày 01/02/1992 và kết luận của UBND xã H trả lời đơn thư của ông Lê Đình C1. Tại Kết luận nêu trên UBND xã đã xác nhận có việc ông Lê Đình C1 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Phạm Văn T1, cũng tại văn bản này thể hiện nếu ông C1 muốn sử dụng lại thửa đất này thì phải chuộc lại theo thoả thuận. Tuy nhiên, sau đó hai bên cũng không có thoả thuận nào khác.
Về quá trình sử dụng: Sau khi nhận chuyển nhượng đất từ ông C1 theo đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu ngày 10/3/1989 ông Lê Đình C1 cho ông Phạm Văn T1 là con của chị vợ ông, ông T1 cùng gia đình đã ở trên đất đó, ông T1 đã xây tường bao, 02 chuồng gà và quán bán tạp hóa, trồng cây tại diện tích đất nhận chuyển nhượng. Đến nay, gia đình ông T1 vẫn đóng đầy đủ thuế, phí đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng cho Nhà nước. Đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo thoả thuận.
Đến năm 2006, ông T1 đã giao cho vợ chồng con trai ông T1 là anh L2, chị H6 quản lý, sử dụng diện tích đất nhận chuyển nhượng từ ông C1 để sinh sống, xây dựng gia đình. Vợ chồng anh L2, chị H6 sống ổn định trên đất từ đó đến nay. Trong quá trình sinh sống, vợ chồng anh L2, chị H6 đã tạo lập, xây dựng:
- 01 ngôi nhà mái bằng một tầng, có tum lợp mái tôn, sơn sửa công sắt vào năm 2011;
- 01 nhà cấp bốn lợp mái tôn năm 2020 để kinh doanh nhà hàng ăn uống;
- Xây sân lát gạch, trên lợp mái tôn năm 2020;
- Phía sau là vườn cây ăn quả (01 cây nhãn đường kính 30 cm, 08 cây bưởi đường kính 10-15 cm, 01 cây mít đường kính 20 cm và 01 cây đu đủ) được trồng từ khoảng năm 2006.
Xét lời trình bày của nguyên đơn: Ông C1 chỉ cho gia đình ông T1 mượn đất chứ không bán. Đến năm 2005, sau khi nhận được Kết luận UBND xã Hoàng Văn T3 thì ông C1 bị đi cải tạo không có điều kiện giải quyết tranh chấp. Hội đồng xét xử nhận thấy: theo như bà H và chị H3 là con đẻ ông C1 trình bày: trong khi ông C1 trong trại cải tạo, vợ và các con ông C1 vẫn ở quê vẫn liên lạc và chăm sóc ông C1 trong trại cải tạo cho đến khi ông C1 chết. Đến lúc chết ông C1 không để lại di chúc, cũng không dặn dò gì. Ngoài ra, bà H trình bày lúc ông C1 còn sống ông C1 có nói cho bà H biết tranh chấp nên sau khi ông C1 chết bà H đã đến gia đình ông T1 để thương lượng nhưng không có kết quả. Tuy nhiên, bà H cũng không đưa ra được bằng chứng, bên bị đơn không thừa nhận nên không có căn cứ chấp nhận lời trình bày này.
Theo tài liệu có trong hồ sơ thì đến năm 2023, bà H mới có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp tại UBND xã và khởi kiện tại Toà án huyện C, Hà Nội.
Vì vậy, theo quy định tại khoản 2.2, Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tối cao ngày 10/8/2004 về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Điều 3 Luật đất đai năm 1987 thì gia đình ông T1 có đầy đủ các giấy tờ và thực hiện đúng theo Đơn xin nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu thì công nhận hợp đồng. Cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H và tạm giao cho gia đình ông Phạm Văn T1 được quyền sử dụng thửa đất số 76, tờ bản đồ 41, diện tích 680,9m²; địa chỉ thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội. Giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,5,6,7,1) theo sơ đồ kèm theo bản án là đúng quy định của pháp luật.
Xét việc nguyên đơn cho rằng: Tài sản đang tranh chấp là tài sản chung hợp nhất của ông C1 và bà B1. Kể từ năm 1987, sau khi bà B1 chết chưa chia di sản thừa kế của bà B1; Năm 2005 đã có sự tranh chấp giữa ông C1 và bị đơn liên quan đến khối di sản bà B1 để lại, cấp sơ thẩm xác định toàn bộ tài sản đang tranh chấp là của bà B1 không đề cập đến việc chia di sản thừa kế của bà B1 làm ảnh hưởng đến quyền tài sản của bà B1; Không khôi phục thời hiệu chia thừa kế, chưa xác định đúng, đủ người tham gia tố tụng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại thời điểm năm 1987 khi bà Hoàng Thị B1 chết, lúc đó hai con chung của bà B1 và ông C1 là chị Lê Thị H3 sinh năm 1982, chị Lê Thị H4 sinh năm 1983 còn nhỏ chưa thành niên nên giám hộ đương nhiên là ông Lê Đình C1 nên việc ông Lê Đình C1 có quyền theo quy định tại các Điều 52, 55, 58 Bộ luật Dân sự. Sau này, khi H3, chị H4 trưởng thành cho đến khi bà H khởi kiện cũng không có tranh chấp gì với gia đình ông T1 nên ý kiến của nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của bà Nguyễn Thị H về việc:
- Tuyên hủy Văn bản Đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu ngày 10/3/1989 có xác nhận của Chi ủy thôn Văn Sơn ngày 11/3/1989 và xác nhận UBND xã ngày 01/02/1992 và văn bản mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu có.
- Buộc gia đình ông Phạm Văn T1 trả lại cho gia đình bà H thửa đất số 76, tờ bản đồ 41, diện tích 680,9m² mang tên ông Phạm Văn T1 có địa chỉ thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội.
[3] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Đây là tranh chấp không có giá ngạch nhưng cấp sơ thẩm buộc bà H phải chịu số tiền 100.090.000 đồng (Một trăm triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng) án phí có giá ngạch là không phù hợp nên chấp nhận một phần kháng cáo của bà H về án phí, cần sửa bản án sơ thẩm về phần án phí. Giữ nguyên các nội dung khác của bản án sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án nên bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 26, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, Điều 184, Điều 185, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 52, Điều 55, Điều 58, khoản 3 Điều 155, Điều 160, Điều 161, Điều 221, Điều 223 Bộ luật Dân sự;
- Các điều trong Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2013 và các văn bản hướng dẫn để giải quyết tranh chấp.
- Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tối cao ngày 10/8/2004 về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.
- Sửa Bản bản án dân sự sơ thẩm 168/2024/DS- ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội về phần án phí, cụ thể như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phạm Văn T1 về việc:
- - Tuyên hủy Văn bản Đơn xin phép nhượng lại đất ở và kế thừa tài sản hoa màu ngày 10/3/1989 có xác nhận của Chi ủy thôn Văn Sơn ngày 11/3/1989 và xác nhận UBND xã ngày 01/02/1992 và văn bản mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu có.
- - Buộc gia đình ông Phạm Văn T1 trả lại cho gia đình bà H thửa đất số 76, tờ bản đồ 41, diện tích 680,9m² mang tên ông Phạm Văn T1 có địa chỉ thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội.
- Tạm giao cho gia đình ông Phạm Văn T1 được quyền sử dụng thửa đất số 76, tờ bản đồ 41, diện tích 680,9m²; địa chỉ thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội, giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,5,6,7,1) theo sơ đồ kèm theo bản án.
- Về quyền đăng ký quyền sử dụng đất: Gia đình ông Phạm Văn T1 có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xem xét đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật và nộp các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 600.000 (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0077091 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, thành phố Hà Nội. Hoàn trả cho bà H số tiền là 20.400.000 đồng (Hai mươi triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0061821 ngày 03/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, thành phố Hà Nội.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lan Anh |
15
Bản án số 250/2025/DS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 250/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H và bị đơn là ông Phạm Văn T
