|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 250/2024/HS-ST
Ngày 29 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Nam.
Thẩm phán: Ông Phan Thanh Nguyễn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Cương.
- Ông Phạm Văn Hễ.
- Bà Nguyễn Đức Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 281/2024/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2640/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Triệu Minh T, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 666/46/9 đường B, Phường B, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 104/52 T, Phường H, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Trọng L và bà Vũ Thị T; có vợ (chưa đăng ký kết hôn) và 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 105/HSPT ngày 12/02/2004, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 04 năm tù, về tội “Cướp tài sản” đến ngày 14/11/2007 chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí HSST, HSPT; bị tạm giam từ ngày 03/3/2023, có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: bà Nguyễn Ngọc Trâm, Luật sư của Văn phòng Luật sư Hồ Trung Hiếu thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Triệu Trọng L, sinh năm 1952; địa chỉ: 666/46/9 đường B, Phường B, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 23 giờ 45 phút ngày 02/3/2023, tổ công tác 363 Công an Quận 10 tuần tra đến trước nhà số 104/12 đường T, Phường H, Quận 10, phát hiện Triệu Minh T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 59N1-13804 có biểu hiện nghi vấn, nên đã ghi lời khai làm rõ. T xác nhận có sử dụng và cất giấu ma túy tại chỗ ở. Kiểm tra hành chính chỗ ở của T (nhà số 104/52 đường T, Phường H, Quận 10), thu giữ 0,7647 gam ma túy, loại Methamphetamine. T khai ma túy là của T cất giấu để sử dụng và bán lại kiếm lời, nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, cùng vật chứng (BL 92 - 94).
Ngày 03/3/2023, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Triệu Minh T (nhà số 104/52 đường T, Phường H, Quận 10), thu giữ 37,8088 gam ma túy, loại MDMA, Ketamine; 1,8069 gam ma túy, loại MDMA, Ketamine, Methamphetamine; 1,5053 gam ma túy, loại MDMA; 92,6595 gam ma túy, loại Methamphetamine; 1,0592 gam ma túy, loại Ketamine; 0,1059 gam ma túy, loại Ketamine, Methamphetamine; 13,3673 gam ma túy, loại Cocaine. Khám xét xe mô tô hiệu Honda, biển số 59A3-04470 của T, thu giữ 23,0801 gam ma túy, loại MDMA; 122,3957 gam ma túy, loại Methamphetamine; 12,3896 gam ma túy, loại Ketamine; 0,8229 gam không tìm thấy ma túy (BL 97, 98).
Cùng ngày 03/3/2023, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Triệu Minh T (địa chỉ số 666/46/9 đường B, Phường B, Quận 10), nhưng không có đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội (BL 101, 102).
Vật chứng là ma túy thu giữ của Triệu Minh T đã được giám định tại Kết luận giám định số 2031/KL-KTHS và 2032/KL-KTHS ngày 10/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh (BL 107).
Kết quả điều tra xác định, Triệu Minh T mua ma túy của Đường, Hùng, Hiếu (không rõ lai lịch) để sử dụng. Đầu tháng 2/2023, T nảy sinh ý định mua ma túy để bán lại, kiếm lời. Ngày 01/02/2023, T gọi điện thoại cho Đường đặt mua 100 gam ma túy, loại Methamphetamine, giá 32.000.000 đồng, do không đủ 100 gam ma túy, loại Methamphetamine, nên Đường đưa cho T 80 gam ma túy, loại Methamphetamine và 02 hộp khối lượng 20 gam, loại Ketamine, giao ma túy tại khu vực Công viên Hoàng Văn Thụ, quận Phú Nhuận. T đã sử dụng hết 01 hộp khối lượng 10 gam, loại Ketamine, còn lại 01 hộp khối lượng 10 gam, loại Ketamine cất giấu trong phòng (nhà số 104/52 đường T, Phường H, Quận 10). Ngày 24/02/2023, T gọi điện thoại cho Hùng (không nhớ số điện thoại) mua 80 viên ma túy, loại MDMA, giá 9.000.000 đồng, giao ma túy tại khu vực Ngã tư Bảy Hiền, quận Tân Bình. Ngoài ra, trước đó T còn mua ma túy, loại Methamphetamine, Ketamine, MDMA và Cocaine (không nhớ rõ số lượng và giá tiền) của người tên Hiếu (không rõ lai lịch), cất giấu tại chỗ ở (nhà số 104/52 đường T, Phường H, Quận 10) để sử dụng và bán khi có người mua, đã được phát hiện thu giữ khi khám xét.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Triệu Minh T khai nhận hành vi như đã nêu trên, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác (BL 50 - 73b).
Vật chứng thu giữ: Có bảng kê kèm theo Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 221/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 01/4/2024, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị can Triệu Minh T có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Phần tranh tụng tại phiên tòa:
- Bị cáo xác nhận bản Cáo trạng truy tố là đúng với hành vi phạm tội không có oan sai.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Triệu Minh T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước;
Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo T trình bày: thống nhất với quan điểm truy tố về tội danh và điều khoản của bản Cáo trạng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có cha là người có công với cách mạng, hiện là thương binh; số lượng ma túy đã thu giữ chưa phát tán mà cho bị cáo hưởng mức án, phạt bổ sung nhẹ hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên.
- Bị cáo đồng ý với phần trình bày bào chữa của luật sư, xin khoan hồng xử nhẹ.
- Kiểm sát viên đối đáp: luật sư đã thống nhất với quan điểm truy tố về tội danh và điều khoản của bản Cáo trạng, còn về mức án đề nghị thì xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Kiểm sát viên bảo lưu luận tội.
- Lời nói sau cùng của bị cáo ăn năn hối cải xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Xét lời khai nhận của bị cáo Triệu Minh T tại phiên tòa cơ bản phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai cũng như bản tự khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 23 giờ 45 phút ngày 02/3/2023, tại trước nhà số 104/12 đường T, Phường H, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ công tác 363 Công an Quận 10 tuần tra phát hiện Triệu Minh T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 59N1-138.04 có biểu hiện nghi vấn, nên đã ghi lời khai làm rõ. T xác nhận có sử dụng và cất giấu ma túy tại chỗ ở. Kiểm tra hành chính chỗ ở của T (nhà số 104/52 đường T, Phường H, Quận 10), thu giữ 0,7647 gam ma túy qua giám định là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine. T khai ma túy là của T cất giấu để sử dụng và bán lại kiếm lời, nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, cùng vật chứng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Triệu Minh T còn thu giữ 37,8088 gam ma túy, loại MDMA, Ketamine; 1,8069 gam ma túy, loại MDMA, Ketamine, Methamphetamine; 1,5053 gam ma túy, loại MDMA; 92,6595 gam ma túy, loại Methamphetamine; 1,0592 gam ma túy, loại Ketamine; 0,1059 gam ma túy, loại Ketamine, Methamphetamine; 13,3673 gam ma túy, loại Cocaine. Khám xét xe mô tô hiệu Honda, biển số 59A3-04470 của T, thu giữ 23,0801 gam ma túy, loại MDMA; 122,3957 gam ma túy, loại Methamphetamine; 12,3896 gam ma túy, loại Ketamine; 0,8229 gam không tìm thấy ma túy.
Đối với người tên Đường, Hùng, Hiếu bán ma túy cho bị cáo T, do không xác định được lai lịch, nên không có cơ sở xem xét xử lý.
Như vậy, bị cáo Triệu Minh T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, với khối lượng ma túy thu giữ qua giám định là ma túy ở thể rắn gồm: 215,8199 gam loại Methamphetamine; 24,5854 gam loại MDMA; 13,3673 gam loại Cocaine; 13,4488 gam loại Ketamine; 37,8088 gam loại MDMA, Ketamine; 1,8069 gam loại MDMA, Ketamine, Methamphetamine và 0,1059 gam loại Ketamine, Methamphetamine.
Xét hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình nhưng do cần tiền tiêu xài và ma túy để sử dụng nên bị cáo đã mua ma túy của người tên Đường, Hùng, Hiếu chưa rõ lai lịch để bán cho người khác, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Triệu Minh T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét ma túy ở thể rắn mà bị cáo mua bán, tàng trữ trái phép nhằm mục đích bán cho người khác có khối lượng như đã nêu trên là dấu hiệu định khung hình phạt được quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình).
Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có cha là người có công với cách mạng, hiện là thương binh đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự về hình phạt đối với bị cáo là tù có thời hạn mới đủ sức giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo số tiền nhất định để nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Xét Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo Triệu Minh T về khung, điều luật và tội danh như đã viện dẫn trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Với lập luận tại đoạn [1] là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận hay không chấp nhận phần luận tội của Kiểm sát viên, luận cứ bào chữa của luật sư cho bị cáo, trình bày của bị cáo.
[3] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Xét về xử lý vật chứng, án phí:
[4.1] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số 453/23 có chữ ký ghi tên giám định viên Lê Thị Hằng và cán bộ điều tra Nguyễn Văn Huy bên trong là mẫu còn lại sau giám định là ma túy,
19 (mười chín) gói được niêm phong bên ngoài ghi: số 454/23 Gói 1; 2032 (454/23) G2; 2032 (454/23) G3; 2032 (454/23) G4; 2032 (454/23) G5; 2032 (454/23) G6; 2032 (454/23) G7; 2032 (454/23) G8; 2032 (454/23) G9; 2032 (454/23) G10; 2032 (454/23) G11; 2032 (454/23) G12; 2032 (454/23) G13; 2032 (454/23) G14; 2032 (454/23) G15; 2032 (454/23) G16; 2032 (454/23) G17; 2032 (454/23) G18; 2032 (454/23) G19; tất cả đều có chữ ký bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị Hằng và cán bộ điều tra Nguyễn Văn Huy bên trong là mẫu còn lại sau giám định là ma túy.
Nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm: 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 50 (năm mươi) gói nylon rỗng là vật liên quan đến việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy;
- 03 (ba) cân điện tử là vật liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei 357450460519867/01 (nhận 01 điện thoại Samsung có số Imei: ...986/7, cũ, trầy xước, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
- 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: HONDA; số loại: SH300I; dung tích xi lanh: 279; biển số 59A3-044.70; số khung: ZDCNF02D0EF277756; số máy: NF02E-6137690 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra). Kết quả điều tra xác định số khung, số máy không đổi, do Triệu Trọng L (cha của T) đứng tên chủ sở hữu, cho bị cáo T mượn, T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, ông L không có lỗi nên trả xe lại cho chủ sở hữu;
- 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: YAMAHA; số loại: C125Z; dung tích xi lanh: 125, biển số 59N1-138.04; số khung: KE1-027307; số máy: E101E027307 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra). Kết quả điều tra xác định số khung, số máy không đổi, do Đinh Đại Q đứng tên chủ sở hữu, ông Q không có mặt ở địa phương, nên chưa ghi lời khai làm rõ. Bị cáo T khai mua xe của anh Q nhưng chưa làm thủ tục sang tên, sử dụng vào việc phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đăng báo tìm chủ sở hữu. Giao Cục thi hành án dân sự có thẩm quyền đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 12 tháng nếu không có ai đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
- 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: không xác định; số loại: không xác định; dung tích xi lanh: không xác định; biển số 59A3-023.68; số khung: ZDCNF02D0EF278420; số máy: không có (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra). Kết quả điều tra xác định số khung không đổi, số máy bị mài mất số, không xác định được số nguyên thủy. Xác minh biển số 59A3-023.68 là của xe mô tô hiệu Honda Goldwing, số khung 8LXCK-001478, số máy C47E-5006602, do anh Hồ Hữu T đứng tên chủ sở hữu, anh Trung đang sử dụng chiếc xe này. Xác minh số khung ZDCNF02D0EF278420 là của xe mô tô hiệu Honda, biển số 59A3-04427, do anh Mai Phong N đứng tên chủ sở hữu, anh N bán xe cho anh Lê P, anh P cho anh Bùi Thọ Hoàn V thuê để sử dụng, anh V hiện không ở địa phương, nên chưa ghi được lời khai làm rõ. Tra cứu biển số 59A3-02368 và số khung ZDCNF02D0EF278420, nhưng không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã gửi thông báo tìm chủ sở hữu. Đây là phương tiện cấm lưu thông nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4.2] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Triệu Minh T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2023.
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
- - 03 (ba) cân điện tử;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei 357450460519867/01 (nhận 01 điện thoại Samsung có số Imei: ...986/7, cũ, trầy xước, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
- - 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: không xác định; số loại: không xác định; dung tích xi lanh: không xác định; biển số 59A3-023.68; số khung: ZDCNF02D0EF278420; số máy: không có (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra);
Tịch thu và tiêu hủy:
- - 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số 453/23 có chữ ký ghi tên giám định viên Lê Thị Hằng và cán bộ điều tra Nguyễn Văn Huy bên trong là mẫu còn lại sau giám định;
- - 19 (mười chín) gói được niêm phong bên ngoài ghi: số 454/23 Gói 1; 2032 (454/23) G2; 2032 (454/23) G3; 2032 (454/23) G4; 2032 (454/23) G5; 2032 (454/23) G6; 2032 (454/23) G7; 2032 (454/23) G8; 2032 (454/23) G9; 2032 (454/23) G10; 2032 (454/23) G11; 2032 (454/23) G12; 2032 (454/23) G13; 2032 (454/23) G14; 2032 (454/23) G15; 2032 (454/23) G16; 2032 (454/23) G17; 2032 (454/23) G18; 2032 (454/23) G19; tất cả đều có chữ ký ghi tên giám định viên Lê Thị Hằng và cán bộ điều tra Nguyễn Văn Huy bên trong là mẫu còn lại sau giám định;
- - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm: 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 50 (năm mươi) gói nylon rỗng;
Giao Cục thi hành án dân sự có thẩm quyền đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đăng báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: YAMAHA; số loại: C125Z; dung tích xi lanh: 125, biển số 59N1-138.04; số khung: KE1-027307; số máy: E101E027307 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra);
Trả lại cho ông Triệu Trọng L: 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: HONDA; số loại: SH300I; dung tích xi lanh: 279; biển số 59A3-044.70; số khung: ZDCNF02D0EF277756; số máy: NF02E-6137690 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/292 ngày 23/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đức Nam |
Bản án số 250/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy (illegal trading of narcotics)
- Số bản án: 250/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Illegal trading of narcotics)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chấ ma túy
