| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 250/2024/DS-PT | |
| Ngày: 06-6-2024 | |
| V/v Tranh quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 116/2023/DS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Bình Thủy bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 148/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Văn N, sinh năm 1950.
Địa chỉ: Số A khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: 1. Bà Trần Thị C,
Người đại diện theo ủy quyền: bà Trương Thị Thanh Thúy
Đại chỉ: 122/4, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. BL 144
- Ông Trương Nhựt T, sinh năm 1978
- Bà Trương Thị Bích L, sinh năm 1984
- Trương Nhật A, sinh năm 2006
- Trương Bảo N1, sinh năm 2011
Cùng địa chỉ: Số A khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: ông Nguyễn Ngọc T1 là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh H.
Địa chỉ: C N, khu V, phường E, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng N2.
Địa chỉ: Số L, khu dân cư N, đường L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày rằng: Theo bản án số 32/2020/HNST ngày 14/8/2020 về “Tranh chấp ly hôn” giữa ông Trương Văn N với bà Trần Thị C, về tài sản chung và nợ chung ông N bà Cẩm tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông N được cha mẹ để lại phần đất diện tích 3622.9m² tại thửa số 369 và 67, tờ bản đồ số 10 giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 005088/LH do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 10/3/2008 cho ông Trương Văn N. Phần đất này hiện do bà B Trần Thị C, ông Trương Nhựt T, bà Trương Thị Bích L, Trương Nhựt A1, Trương Bảo N1 đang sử dụng. Do có nhu cầu sử dụng phần đất trên nên ông N khởi kiện yêu cầu Bà Trần Thị C, ông Trương Nhựt T, bà Trương Thị Bích L, Trương Nhựt A1, Trương Bảo N1 di dời nhà, trả lại phần đất trên cho ông. Phần đất tranh chấp hiện ông N đã thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh quận B.
- Bị đơn trình bày: Phần đất ông N tranh chấp có nguồn gốc là của cha, mẹ ông N để lại. Hiện trên đất có căn nhà cấp 4 bà Trần Thị C, ông Trương Nhựt T, bà Trương Thị Bích L, cháu Trương Nhựt A1, cháu Trương Bảo N1 đang sinh sống. Trên đất có một số loại cây ăn trái như Chanh, H và những cây lấy gỗ như Sao, Xà C1, D do ông N và bà Cẩm t. Nay ông N khởi kiện yêu cầu di dời nhà trả đất cho ông N thì bà C, ông T, bà L không đồng ý vì các ông bà đã ở trên đó từ rất lâu và đây là đất hương hỏa để thờ cúng ông bà. Đối với nhà và đất thì là nhà đất chung, ông N vẫn có quyền ở và canh tác trên đất. Bà Trần Thị C, ông Trương Nhựt T, bà Trương Thị Bích L, Trương Nhựt A1, Trương Bảo N1 không ai ngăn cản hay yêu cầu ông N ra ngoài sinh sống.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân quận Bình Thúy đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 90/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Bình Thủy đã tuyên như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Văn N. Buộc các bị đơn di dời các vật dụng trong nhà trả lại nguyên đơn phần đất tại thửa 369 và 67 tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ theo Bản trích đo địa chính số 975/TTKTTNMT ngày 08/9/2023 diện tích là 3622,9 m². Ông N có trách nhiệm trả cho các bị đơn giá trị nhà 501.029.000 đồng (năm trăm lẻ một triệu không trăm hai mươi chín nghìn đồng). Các bị đơn được quyền lưu cư trong thời gian 06 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn bà N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: phần đất đang tranh chấp đã được bị đơn quản lý sử dụng, đất này được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông N và bà C, trên đất có căn nhà chính và 02 căn nhà phụ do bà N tự xây dựng. Do đó, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị đơn vì phần đất nguyên đơn tranh chấp là do ông bà để lại và bị đơn là người thực hiện việc thờ cúng ông bà, bị đơn là người xây dựng nhà, nguyên đơn biết việc này và không ngăn cản.
Phía bị đơn bà C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Phần đất tranh chấp diện tích 3.622,9m² tại thửa 369, thửa 67 tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ có nguồn gốc là của ông Trương Hữu T2, bà Lê Thị T3 di chúc cho nguyên đơn năm 2000, tại nội dung bản di chúc (BL 21) thể hiện phần đất tranh chấp được để lại cho ông Trương Văn N và trên cơ sở di chúc trên, nguyên đơn đã kê khai và được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp ngày 10/3/2008. Do phần đất tranh chấp nguyên đơn được thừa kế theo di chúc, giữa nguyên đơn và bị đơn không có thỏa thuận về việc sáp nhập phần đất tranh chấp trên vào khối tài sản chung của vợ chồng, cũng như nguyên đơn không thừa nhận đây là tài sản chung của vợ chồng nguyên đơn và bị đơn. Hiện tại, nguyên đơn là chủ sử dụng hợp pháp phần đất tranh chấp theo quy định pháp luật, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu các bị đơn phải giao trả phần đất tranh chấp là có cơ sở. Theo biên bản thẩm định ngày 08/5/2023, hiện tại trên phần đất tranh chấp có 01 căn nhà cấp 4 và 02 căn nhà tạm được xây dựng năm 2013. Thời điểm các bị đơn xây dựng nhà phía nguyên đơn không ngăn cản. Mặt khác, quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận nguyên đơn không có đóng góp đối với tài sản trên đất, nên cần thiết buộc nguyên đơn phải thanh toán lại cho các bị đơn giá trị tài sản trên đất theo biên bản định giá ngày 08/5/2023 số tiền 501.029.000 là phù hợp. Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 116 ngày 13/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả lại đất thuộc quyền sử dụng của nguyên, phía bị đơn không đồng ý. Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là phù hợp.
[2] Xét về thủ tục tố tụng: phía nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, trong vụ án này có 02 cháu Trương Nhật A, Trương Bảo N1 do chưa đủ 18 tuổi nên có ông T và bà L là cha và mẹ làm người đại diện.
[3] Về nội dung: Nguồn gốc đất đang tranh chấp có diện tích 3622.9m² tại thửa số 369 và 67, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ có nguồn gốc của ông Trương Hữu T2 và bà Lê Thị T3 (là cha mẹ của nguyên đơn). Vào ngày 10/3/2008 ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông N được hưởng thừa kế. Phần đất này hiện do bà B Trần Thị C, ông Trương Nhựt T, bà Trương Thị Bích L, Trương Nhựt A1, Trương Bảo N1 đang sử dụng. Do có nhu cầu sử dụng phần đất trên nên ông N khởi kiện yêu cầu Bà Trần Thị C, ông Trương Nhựt T, bà Trương Thị Bích L, Trương Nhựt A1, Trương Bảo N1 di dời nhà, trả lại phần đất trên cho ông. Hiện nay ông N đã thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh quận B.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc công nhận diện tích 3.622,9m² đất là tài sản chung của bà C với nguyên đơn, công nhận ½ diện tích trên cho bà C, công nhận căn nhà chính và 02 căn nhà phụ là tài sản riêng của bà C và các con. Hội đồng xét xử nhận thấy nguồn gốc đất đang tranh chấp là của cha mẹ ông N, ông N được hưởng thừa kế theo di chúc ngày 29/5/2000. Theo di chúc ngày 29/5/2000 của ông T2 và bà T3 có ghi nhận để lại cho ông N 4.354m² đất ruộng, 150m² đất thổ cư, 01 nhà bằng cây gỗ đất tọa lạc tại tổ E, ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ nay là khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Như vậy, nội dung di chúc trên để lại tài sản cho cá nhân ông N và ông N đã làm thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, đến ngày 10/3/2008 Ủy ban nhân dân quận B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 3622.9m² đất tại thửa số 369 và 67, tờ bản đồ số 10 khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ cho ông Trương Văn N. Bên cạnh đó, tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 31/2022/QĐST- HNGĐ ngày 08/4/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xác định tài sản chung của ông N bà C là phần đất khác chứ không phải phần đất đang tranh chấp trong vụ án này. Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định phần đất diện tích 3622.9m² tại thửa số 369 và 67, tờ bản đồ số 10 giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 005088/LH do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 10/3/2008 cho ông Trương Văn N là tài sản ông N được thừa kế riêng nên ông N khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả lại quyền sử dụng đất là có căn cứ và buộc ông N phải trả lại giá trị căn nhà cho bị đơn theo biên bản định giá tài sản ngày 8/5/2023, tổng giá trị là 501.029.000 đồng (Năm trăm lẻ một triệu không trăm hai mươi chín ngàn đồng) là phù hợp. Ngoài ra, bản án sơ thẩm không xác định lãi suất chậm thi hành án là có thiếu sót nên cần điều chỉnh về vấn đề này.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: do kháng cáo của bị đơn bà C không được chấp nhận nên bị đơn bà C phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên bị đơn bà C là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trần Thị C.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Văn N. Buộc các bị đơn di dời các vật dụng trong nhà trả lại nguyên đơn phần đất tại thửa 369 và 67 tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ theo Bản trích đo địa chính số 975/TTKTTNMT ngày 08/9/2023 diện tích là 3622,9 m². Ông N có trách nhiệm trả cho các bị đơn giá trị nhà 501.029.000 đồng (năm trăm lẻ một triệu không trăm hai mươi chín nghìn đồng).
Kể khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thanh toán xong số tiền 501.029.000 đồng (năm trăm lẻ một triệu không trăm hai mươi chín nghìn đồng), ông N còn phải chịu tiền lãi chậm trả cho đến khi thi hành án xong, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Các bị đơn được quyền lưu cư trong thời gian 06 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về chi phí thẩm định, đo đạc: là 8.000.000 đồng, do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nên nguyên đơn và bị đơn mỗi bên chịu 4.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên chuyển số tiền tạm ứng thành chi phí giám định, các bị đơn trả lại nguyên đơn 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
3. Về án phí: ông N bà C trên 60 tuổi nên thuộc trường hợp miễn án phí. Ông T, bà L mỗi người phải chịu 300.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: miễn án phí cho bị đơn bà C.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND quận Bình Thủy; - VKSND TP.Cần Thơ; - Chi cục THADS quận Bình Thủy; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Tuyết Mai |
Bản án số 250/2024/DS-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 250/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
