|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 25/2024/DS-ST Ngày 31-7-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Lê Thị Mai Hương;
Ông Nguyễn Khắc Quyết;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Bà Phùng Thị H1, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 6 năm 2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:
Chị tham gia chơi góp họ với bà Phùng Thị H1 02 dây họ. Dây họ thứ nhất đóng từ tháng 11 năm 2022, số tiền là 5.000.000đồng/tháng, chị đã đóng cho bà H1 từ tháng 11 năm 2022 đến tháng 11 năm 2023 số tiền là 65.000.000đồng, tiền áp cái (là tiền hoa hồng bà H1 được hưởng) là 1.000.000đồng. Tổng số tiền chị đã đóng cho bà H1 trong dây họ thứ nhất là 66.000.000đồng. Dây họ thứ hai, chị đóng từ tháng 05 năm 2023, số tiền đóng là 10.000.000đồng/tháng, chị đã đóng cho bà H1 từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 11 năm 2023 là 70.000.000đồng, tiền áp cái (là tiền hoa hồng bà H1 được hưởng) là 2.000.000đồng. Tổng số tiền chị đã đóng cho bà H1 trong dây họ thứ hai là 72.000.000đồng. Tổng số tiền của hai dây họ chị đã đóng cho bà H1 là 135.000.000đồng tiền gốc và 3.000.000đồng tiền hoa hồng cho bà H1. Số tiền này chị đóng trực tiếp cho bà H1, có lần bà H1 không có nhà thì chị đóng cho chị Phạm Thị M là con gái bà H1 và nhờ chị M chuyển lại cho bà H1. Khi góp họ, chị chỉ biết đóng tiền họ cho bà H1 mà không biết các thành viên khác là ai, việc thoả thuận góp họ bằng miệng, không lập thành văn bản. Khi đóng tiền hàng tháng bà H1 sẽ ký nhận cho chị. Khi có nhu cầu lĩnh họ, các thành viên chỉ cần thông báo trước cho bà H1 một tháng. Về tiền lãi, các thành viên nào lĩnh họ trước phải đóng tiền lãi để trả cho các thành viên đóng họ sau, tiền lãi được tính là 200.000đ/1.000.000đồng/tháng. Tuy nhiên đến tháng 12 năm 2023, bà H1 thông báo dừng họ, không thu tiền nữa. Chị yêu cầu bà H1 trả lại số tiền chị đã đóng, bà H1 chưa trả tiền cho chị. Cho đến nay bà H1 còn nợ chị số tiền 135.000.000đồng tiền gốc, tiền hoa hồng bà H1 đã trả lại chị 3.000.000đồng. Do chị đã đòi nợ nhiều lần, bà H1 khất nần không trả, vì vậy chị khởi kiện bà H1 đến Toà án, yêu cầu Toà án tuyên buộc bà H1 phải trả ngay một lần cho chị toàn bộ số tiền còn nợ là 135.000.000đồng, chị không yêu cầu bà H1 phải trả lãi đối với số tiền này.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 02 tháng 7 năm 2024, bị đơn bà Phùng Thị H1 khai:
Bà làm chủ họ từ nhiều năm nay và bản thân cầm nhiều dây họ, chị Đặng Thị H đã tham gia góp 02 dây họ cho bà, cụ thể dây họ thứ nhất đóng từ tháng 11 năm 2022, số tiền là 5.000.000đồng/tháng, chị H đã đóng cho bà từ tháng 11 năm 2022 đến tháng 11 năm 2023 số tiền là 65.000.000đồng, tiền áp cái (là tiền hoa hồng bà được hưởng) là 1.000.000đồng. Tổng số tiền chị H đã đóng cho bà trong dây họ thứ nhất là 66.000.000đồng. Dây họ thứ hai, chị H đóng từ tháng 05 năm 2023, số tiền đóng là 10.000.000đồng/tháng, chị H đã đóng cho bà từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 11 năm 2023 là 70.000.000đồng, tiền áp cái (là tiền hoa hồng bà được hưởng) là 2.000.000đồng. Tổng số tiền chị H đã đóng cho bà trong dây họ thứ hai là 72.000.000đồng. Tổng số tiền của hai dây họ chị H đã đóng cho bà là 135.000.000đồng tiền gốc và 3.000.000đồng tiền hoa hồng cho bà. Số tiền này chị H chuyển trực tiếp cho bà, khi bà đi vắng thì con gái bà là chị Phạm Thị M nhận hộ, sau đó gửi lại cho bà, bà đã ký xác nhận tiền cho chị H. Bà đã trả lại chị H số tiền 3.000.000đồng là tiền áp cái. Đến nay số tiền bà còn nợ chị H là 135.000.000đồng, bà công nhận số tiền này là đúng và sẽ có trách nhiệm trả lại cho chị H số tiền này. Về tiền lãi, các thành viên nào lĩnh họ trước phải đóng tiền lãi để trả cho các thành viên đóng họ sau, tiền lãi được tính là 200.000đồng/1.000.000đồng/tháng. Khi đóng họ các thành viên trong dây họ chỉ cần đóng tiền cho bà, bà sẽ ký vào sổ xác nhận cho người đóng, khi cần lĩnh tiền thì người chơi họ cần thông báo trước cho bà một tháng, việc thoả thuận này bằng miệng, không có văn bản. Từ trước đến nay bà đều làm ăn đàng hoàng, sòng phẳng nên được nhiều người tin tưởng góp họ. Tuy nhiên từ năm 2017 đến năm 2019, có nhiều người chơi họ đã lĩnh tiền từ đầu kỳ nhưng không tiếp tục đóng tiền họ cũng như tiền lãi theo thoả thuận cho bà, dẫn đến việc bà không có tiền chi trả cho các thành viên góp họ sau. Khi không còn khả năng thanh toán, bà đã mời tất cả người tham gia góp họ đến và thông báo dừng việc góp họ, tìm phương án giải quyết. Bà đã bán được căn nhà đang ở để lấy tiền trả cho người góp họ, tuy nhiên do nợ nhiều người nên bà đề nghị trả cho mỗi người góp họ một ít theo tỷ lệ khoảng 08%/số tiền góp của mỗi người, số nợ còn lại bà sẽ trả dần sau. Trường hợp những người góp họ không đồng ý nhận thì bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản làm việc ngày 02 tháng 7 năm 2024, chị Phạm Thị M khai:
Chị nhất trí với lời trình bày của mẹ chị là bà Phùng Thị H1. Do nhà chị ở gần nhà bà H1 nên trong quá trình người chơi đến nhà đóng tiền, khi nào mẹ chị đi vắng thì chị nhận tiền góp họ giúp bà H1 để thuận tiện cho những người chơi họ không phải đi lại nhiều. Trong hai dây họ mà chị H đóng tiền họ cho bà H1 có tháng 5, 6, 10 năm 2023 chị nhận tiền đóng họ của chị H. Sau đó chị đã chuyển lại toàn bộ tiền họ cho mẹ chị. Chị không tham gia, không liên quan đến việc góp họ của mẹ chị với chị H cũng như những người chơi họ khác. Chị không được hưởng lợi gì từ việc này, không được mẹ chị trả công, thù lao. Chị đề nghị Toà án không đưa chị vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa, bị đơn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày tại Toà án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tuân theo pháp luật tố tụng của:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa và lời khai của các bên đương sự Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp Hợp đồng vay tài sản là phù hợp với Điều 463 của Bộ luật dân sự. Chị H là bên cho vay, bà H1 là bên vay.
Chị H trình bày đến nay bà H1 còn nợ chị H 135.000.000đồng, bà H1 cũng thừa nhận đến nay còn nợ chị H số tiền nêu trên, các tài liệu chứng cứ thu thập được phù hợp với lời khai của chị H, bà H1 nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H buộc bà H1 phải trả cho chị H 135.000.000đồng.
Từ các lý do trên: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 275, 280, 463, 464, 465, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bà Phùng Thị H1 phải trả cho chị Đặng Thị H số tiền 135.000.000đồng. Chị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại chị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà Phùng Thị H1 do là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Các bên đương sự đều thống nhất lời khai về việc chị H có tham gia 02 dây họ có lãi với bà H1 làm chủ họ, có quy định về phần tiền đóng họ, kỳ mở họ, tiền lãi. Tuy nhiên thoả thuận về các dây họ này không được thể hiện bằng văn bản, không lập sổ họ, chị H khi tham gia dây họ cũng không biết các thành viên khác tham gia chơi trong dây họ cùng mình là ai; bà H1 khi tổ chức các dây họ không thông báo cho Ủy ban nhân phường nơi cư trú. Do đó thoả thuận góp họ giữa các bên không đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự và các điều 7, 8, 12, 14 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng vay tài sản giữa các cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại Tổ dân phố D, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Về nội dung vụ án:
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo Giấy nhận họ do chị Đặng Thị H cung cấp cũng như lời khai của bà Phùng Thị H1 thừa nhận có nhận tiền góp họ của chị H tổng số tiền 138.000.000đồng, bà H1 đã trả cho chị H số tiền 3.000.000đồng, đến nay còn nợ chị H 135.000.000đồng. Bà H1 sau khi bán được nhà hứa trả cho mỗi người 08%/số tiền góp họ còn nợ của mỗi người. Lời khai nhận của các bên đương sự phù hợp với nhau và phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ. Như vậy có đủ cở sở kết luận bà Phùng Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, chậm thanh toán tiền theo giấy nhận họ đã ký với chị H. Do đó chị H khởi kiện yêu cầu bà H1 phải trả nợ số tiền 135.000.000đồng là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tiền lãi: Do chị H không yêu cầu tính lãi, xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
[4] Về tư cách tham gia tố tụng của chị Phạm Thị M:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các bên đương sự đều khẳng định việc góp họ là với bà Phùng Thị H1, chị M chỉ là người nhận hộ tiền góp họ cho bà H1. Chị M sau khi nhận được tiền góp họ của chị H đã chuyển lại ngay cho bà H1, bà H1 ký nhận sổ nợ với người góp họ. Chị M không được bà H1 trả công hay lợi ích vật chất nào khác. Vì vậy xác định chị M không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì trong vụ án này.
[5] Về án phí sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên do bị đơn là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi, bị đơn đã có đơn xin miễn án phí kèm tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 275, 280, 463, 464, 465, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Phùng Thị H1 có nghĩa vụ trả cho chị Đặng Thị H số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí sơ thẩm:
2.1 Chị Đặng Thị H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại chị Đặng Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.375.000₫ (Ba triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0006617 ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
2.2 Bà Phùng Thị H1 được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn; Bị đơn đều có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phương |
Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 25/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản giữa chị Đặng Thị H và bà H1
